Văn hóa Huế | Homepage
Huế, viết cho nỗi nhớ

Huế, viết cho nỗi nhớ

🕔23.Jan 2014

Kinh thành như một chiếc… bánh chưng

Em đến với Huế vào một ngày nắng đẹp. Một ngày mà trước đó, trên đài dự báo thời tiết, người ta còn thông báo “mưa to đến rất to, có nơi có dông”.

Anh bạn gọi điện hỏi thăm, em cười bảo: “Không sao, em sẽ mua một cái ô mang theo, cầm ô đi dạo bên bờ sông Hương cũng thích lắm”. Anh trêu: “Thôi đừng xài ô, em đội nón lá mặc áo tơi đi, rất phá cách”, kèm theo đó là tiếng cười đượm mùi… man trá .

Trời thương em, không khiến em phải mặc áo tơi.

“Bò” đội nón đi… du lịch

Chẳng hiểu sao, nói đến Kinh thành Huế em tự dưng liên tưởng đến… chiếc bánh chưng. Vòng tường thành đầu tiên của kinh thành được ví như lá bánh. Ta sẽ thấy toàn bộ phần gạo nếp màu

Muốn đi vào Hoàng thành trước tiên phải đi qua cổng Ngọ Môn. Ngọ ở đây không mang nghĩa giờ ngọ mà là hướng nam, tức là cổng hướng nam. Ngọ môn là mặt tiền của Hoàng thành, ngày xưa chỉ mở cho vua đi, hay khi tiếp kiến sứ thần nước ngoài, phía trên là Lầu Ngũ phụng, dùng để tổ chức một số cuộc lễ hàng năm của triều đình.

trắng là khu vực nhà dân, quan lại, phần đậu xanh là Hoàng thành, trong đậu xanh có thịt mỡ là Tử cấm thành. So sánh cho vui thôi chứ Kinh thành không mềm mềm, thơm thơm như vậy.

Hoàng thành và Tử cấm thành gọi chung là Đại nội. Bởi vậy, nếu nói đến Hoàng thành sẽ hàm ý cả Tử cấm thành, nhưng nếu nói đến Tử cấm thành thì nó chỉ là Tử cấm thành mà thôi. Vì chuyến đi này mà em ngồi khảo gu-gô-ô-pa, nhờ đó mà bớt cùi hơn tí.

Bước qua Ngọ Môn sẽ đến hồ Thái Dịch có cây cầu bắc ngang mang tên Trung Đạo. Hồ đầy sen, ngó xuống mới ngỡ ra em đi vào độ sen tàn. Chợt nhớ đến câu thơ của ai đó em quên mất tên:

Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa
”…

Chẳng hiểu vì sao lúc đó chợt nhớ đến hai câu thơ ấy mà nghe lòng dâng lên một nỗi buồn da diết.

 Huế, viết cho nỗi nhớ - Kỳ 1: Kinh thành như một chiếc... bánh chưng 1
Cá tung tăng dưới hồ

 Huế, viết cho nỗi nhớ - Kỳ 1: Kinh thành như một chiếc... bánh chưng 2
Bức tường cũ nát đối nghịch với gian nhà mới

Trước đây, khi chưa đến Huế, có một lần em dạo quanh một diễn đàn du lịch và đọc được một số thảo luận về một cái sân quần vợt trong Hoàng thành, đại loại như: “Tại sao trong một di tích cổ xưa lại có một sân tennis rất hiện đại. Điều đó thật ngớ ngẩn, tại sao lại phá vỡ cảnh quan của đại nội như thế”.

Em bị những ý kiến đó khắc vào đầu, khiến bản thân mình cũng trở nên định kiến. Sau này khi thấy cái sân quân vợt ấy, em cũng kêu lên: “Ôi, một cái sân quần (vợt) trong khu Đại nội. Thật chả hiểu ra làm sao cả. Chắc trong quá trình trùng tu, tu bổ có pha trộn chút kim cổ vào cho nó hoành tráng”.

Em đã mất rất nhiều thời gian để tự xấu hổ cho cái nhận xét thiển cận ấy của bản thân mình. Đó là khi em biết rằng cái sân quần vợt ấy không phải do người ta “thêm thắt” vào chuyện cổ kim, mà là sân chơi của vua Bảo Đại.

Định kiến một vấn đề đã là nguy hiểm. Định kiến một vấn đề dựa trên “nghe hơi nồi chõ” càng nguy hiểm hơn. Có câu nói: “Đi một ngày đàng học được một sàng dại. Sàng đi sàng lại cũng có một cái khôn”. Em thật tin điều đó sau chuyến đi này.

Có duyên với chín cái đỉnh đồng

Tham quan Đại Nội, em không đi theo trình tự trước sau, phải trái mà đi lung tung loạn xạ, như việc đi phăm phăm qua Ngọ Môn, lượn hết một vòng rồi mới trở ngược lên lầu Ngũ Phụng. Ở đây, phía trước nhìn ra thấy cột cờ lớn Kỳ Đài, cờ bay phấp phới, quay lưng nhìn lại là tổng thể hình ảnh điện Thái Hòa. Ở góc độ này, Hoàng thành vẫn giữ được vẻ đẹp vàng son của một thời đã cũ.

 Huế, viết cho nỗi nhớ - Kỳ 1: Kinh thành như một chiếc... bánh chưng 3
Vẻ đẹp kinh thành nhìn từ lầu Ngũ Phụng. Tự sướng tấm ảnh chụp với cái trống lớn bên phải lầu Ngũ Phụng

Tuy nhiên, dư âm đọng lại nhiều nhất trong em là câu chuyện về chín cái đỉnh đồng (Cửu đỉnh) đặt trước Hiển Lâm Các, đối diện Thế Tổ miếu.

Cửu đỉnh được vua Minh Mạng ra chỉ dụ đúc vào năm 1836, khắc các hình tượng sông núi và mọi vật. Nếu như Đại Nam nhất thống chí được xem là sách địa lý chính thức của triều đình nhà Nguyễn, thì Cửu đỉnh là một bộ “Đại Nam nhất thống chí” bằng hình ảnh, là một bách khoa thư của Việt Nam ở thế kỷ 19

Trước khi đi, em có tìm hiểu những nơi sẽ tham quan nhưng bỏ sót Cửu đỉnh, nên thật ra lúc ngó nghiêng mấy cái đỉnh đồng, em thấy chúng cũng bình thường như cân đường hộp sữa. Chín cái đỉnh được xếp thẳng hàng thẳng lối, ngoại trừ cái đỉnh ở giữa được đặt cao hơn một chút, cũng không hiểu nguyên nhân tại sao.

Nhìn những hình ảnh được chạm trổ trên đỉnh, chỉ biết thế thôi nhưng cũng không hiểu được gì. Đang tần ngần tính lượn luôn cho xong thì một đoàn du khách kéo đến. Anh hướng dẫn viên có nụ cười như mùa thu tỏa nắng khiến em cũng muốn… tỏa nắng theo. Thế là em đi theo anh, coi như em và Cửu đỉnh có … cơ duyên.

Nhờ thế, em biết được những điều muốn nói ẩn sau cổ vật. Ẩn sau những hình ảnh ấy là cả một hệ thống những tư tưởng về thời đại, những câu chuyện về một vương triều, là khát vọng về sự trường tồn cũng như sự lớn mạnh, giàu đẹp của đất nước.

Em đứng nghe anh hướng dẫn thao thao bất tuyệt, mắt đảo như rang lạc, hết nhìn anh đến nhìn đỉnh, trong lòng bừng lên một cảm giác có thể gọi là lòng tự hào dân tộc.

Em chợt nhớ đến cái ngày xưa ấy, khi còn là một con bé hiền lành, chăm chỉ học hành vậy mà vẫn dốt đặc môn lịch sử, học đâu quên đó, đừng hỏi tại sao phụ huynh bây giờ than con như vạc. Giá như em biết đi bụi từ thuở còn … thơ.

Trời ngày hôm đó trong xanh, mây trắng nắng vàng. Từng đoàn du khách dập dìu, tài tử giai nhân tấp nập, các chị các anh tây đầu đội nón lá, mặc áo sao vàng, tay cầm quạt giấy, tất cả vẽ thành một bức tranh đầy màu sắc, đầy sức sống.

Phút ngẫu hứng ở phá Tam Giang

Phá Tam Giang là phút ngẫu hứng của em. Khi 2 giờ chiều, đang ngồi ăn bánh canh cá lóc, em bỗng dưng thèm: “Anh, ăn nhanh lên, mình đi phá Tam Giang”.

Lúc đó cũng không biết phá nằm ở đâu, hướng nào. Bật Google Maps lên, thế là người cầm lái nghe người cầm điện thoại chỉ chỉ, trỏ trỏ hướng đến phá Tam Giang.

Tam Giang đi vào giấc mơ em trong một ngày lang thang lướt nét, tình cờ nhìn một bức ảnh mặt trời vàng rực ẩn trong những áng mây hồng, những ánh sáng của ráng chiều xuyên qua không trung, chiếu xuống mặt nước rồi lan ra theo những con sóng nhẹ, sóng sánh sắc màu.

E không xếp Tam Giang vào danh sách phải đi khi đến Huế, vì đã tham khảo một số ý kiến, ý cò của các “nhà tư vấn”. Vậy mà cuối cùng nơi ấy lại trở thành nơi làm cho em nhớ nhất trong cả chuyến đi. Ngẫm cho cùng vẫn là một chữ duyên mà thành.


Đường đến phá Tam Giang

Mới hơn bốn giờ chiều, mặt trời chưa nhớ biển, em chợt nhớ đến bài hát Chiều trên phá Tam Giang: “Chiều trên phá Tam Giang, anh chợt nhớ em. Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ…”.

Tiếng kêu của xuồng máy và tiếng cười nói ồn ào của mọi người hòa lẫn vào nhau át đi cái niềm nhớ chưa kịp hình thành. Sau đó chỉ còn nghe những tiếng thì thầm nho nhỏ. Đưa mắt nhìn những hàng cọc, hàng lưới ngang dọc trên mặt phá, thỉnh thoảng một vài con thuyền độc mộc lướt qua, nghe buồn tênh.

Xuồng cập bến, tất cả hì hụi khiêng xe xuống. Đi thêm một đoạn, những cồn cát trải dài hút mắt, sau đó là những ngôi mộ to như những lâu đài hiện ra.

Gọi là Tam Giang bởi nơi ấy là nơi gặp gỡ của ba con sông lớn là sông Bồ, sông Hương và sông Ô Lâu trước khi đổ ra cửa biển.

Những lăng mộ tiền tỉ từng xem qua trên báo chí là đây. Hôm ấy vô tình mà được chứng kiến. Mộ nào mộ nấy nguy nga tráng lệ, đủ màu sắc sặc sỡ.

Vào trong làng mới thấy, những ngôi nhà của người sống không bằng một góc nhà của những người đã khuất. Nhìn đâu cũng thấy những biển báo dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về.

Lòng vòng thêm một hồi thì thấy một bờ cát trải dài, lác đác vài con thuyền nhỏ, lưa thưa vài người dân qua lại. Bước chân trần trên nền cát mịn, hít căng lồng ngực mùi gió nồng nàn, nghe lòng thênh thang.

Lúc đi, chú lái xuồng dặn 17 giờ rưỡi chiều là không còn xuồng qua lại. Nếu tối hơn phải “bồi dưỡng” nhiều hơn. Em chẳng muốn tốn tiền vô ích, 5 giờ chiều bắt đầu lục đục đi về. Ngồi trên xuồng, em vẫn không tìm được mặt trời vàng và những đụn mây hồng, mà chỉ là những sắc màu xanh đổ xám hòa quyện vào nhau giữa trời và nước.


Bờ cát trải dài, vắng lặng

Như để tăng thêm phần ảm đạm, anh bạn kể chuyện tình về người con gái trên phá Tam Giang. Trong một câu chuyện nào đó anh từng đọc, phá Tam Giang còn được gọi là bến ma, có một cô gái trẻ bị lật thuyền mà chết, hồn vật vờ theo những làn sóng, theo gió theo sương.

Tiếng hát thê lương ai oán văng vẳng một miền khiến một chàng trai đem lòng yêu thương. Rồi một đêm chàng không ngăn được nỗi nhớ thương cứ chèo thuyền tìm hình bóng cô lẫn trong gió sương mà chết đi, từ đó không còn nghe tiếng hát thê lương ấy nữa. Em ngồi giữa một trời mây nước, nghe gió thổi mà lạnh trong lòng.

Xuồng vào bến, hai đứa ghé vào một quán ăn ngay bên phá, kêu vài món ăn tươi ngon. Ánh đèn điện leo lét không đủ chiếu sáng cái chòi lá dựng sát mép nước. Cái lạnh do câu hát của người con gái trong câu chuyện ấy cũng không còn, thay vào đó là cảm giác dễ chịu, bình yên, phá Tam Giang cũng do vậy mà trở nên gần gũi, đáng nhớ hơn.

Xe cứ đi trong màn đêm tĩnh mịch, ánh đèn xe yếu ớt soi trên những con đường hướng về thành phố. Vậy mà cảm giác đã không còn thấy xa xôi nữa. Chia tay bạn ở khách sạn, lên phòng, em nằm vật ra giường rồi chẳng còn biết trời trăng mây nước gì. Giấc ngủ sâu không mộng mị khép lại những ngày trên đất Huế.

Phượt ký của Love Paradjse
(Theo Thanh Niên)

Similar Articles

Sản phẩm du lịch mới của A Lưới

Sản phẩm du lịch mới của A Lưới

Sau những sản phẩm du lịch được tái hiện như phiên chợ vùng cao, tục

Du lịch Huế về đêm, có gì?

Du lịch Huế về đêm, có gì?

Không thể phủ nhận rất nhiều du khách đến Cố đô Huế du lịch đều

Nhịp sống Chân Mây

Nhịp sống Chân Mây

Với vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi, biển Chân Mây là

Hoang sơ miền Rú Chá

Hoang sơ miền Rú Chá

“Phá Tam Giang, phá Tam Giang!  Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng Trời vẫn xanh màu

Đồng sen ven lộ

Đồng sen ven lộ

Huế cũng có những làng sen quê nổi tiếng như La Chữ có thể so

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose