Văn hóa Huế | Homepage
Trái cấm vườn nhà tôi

Trái cấm vườn nhà tôi

0 Comments 🕔04.Oct 2014

Đêm thơm như một dòng sữa.
Lũ chúng em, âm thầm rủ nhau ra trước nhà.
Đêm thơm, không phải từ hoa,
Mà bởi lòng ta, thiết tha tình yêu thái hoà.
Đời vui như men say
Ngọt lên cây trái.

Tôi cũng chẳng hiểu vì sao cứ cảm thấy qua Dạ lai hương hơi hướm của vườn Huế như vương vít đâu đó trên lời nhạc. Thực ra, có một chút gì thiêu thiếu khi người Huế gọi mái ấm của mình là ngôi nhà, bởi còn một “ngôi vườn” nữa, êm đềm và gắn bó với họ biết bao.

So với cả đất nước, có lẽ Huế là nơi mà sự phân rã của những đại gia đình xảy ra từ tốn và muộn màng nhất. Không ít người Huế đang sống hiện nay, từng có một tuổi thơ ấm áp trong không khí của tam đại – tứ đại đồng đường.
Cách đây không lâu, chúng ta chẳng có gì ngạc nhiên khi chứng kiến một gia đình Huế, gói trong mình nó đến ba mươi, bốn mươi thành viên cùng chung sống. Bà nội, như người mẹ lớn giữ “tay hòm, chìa khoá”, bao bọc các tiểu gia đình. Và có lẽ, từ cùng một nguồn kinh tế trong chi tiêu hàng ngày, cho nên xã hội thu nhỏ ấy vẫn sinh hoạt một cách êm ả. Sự đụng đầu giữa các chị em dâu, nếu có, bất quá chỉ là nết “làm nũng” bởi một ai đó thấy bà nội có biểu hiện cưng chìu hơn (thực ra, hơn ai hết bà biết phải làm gì để đại gia đình có những “đêm thơm như một dòng sữa…”).
Đám con cháu trong các đại gia đình Huế xem chú thím, bác trai, bác gái như chính cha mẹ mình, và thỉnh thoảng còn “mơ hồ” đòi được phần quà  nhiều hơn cả anh chị con cháu ruột của họ.

Ai đã cho mọi thành viên trong xã hội thu nhỏ niềm hạnh phúc ấy; đó chính là Huế, cố đô Việt Nam, nơi mà những tia nắng chiều của chế độ phong kiến khuất khỏi chân trời mới một cách ngập ngừng…
Tôi nói và không mảy may ca ngợi những gì đã từng có trong không khí của một gia đình lớn ở Huế; nơi mà tiếng khóc, tiếng cười, tiếng gào thét, cùng âm thanh của hờn dỗi, ghen tỵ, tranh giành, nũng nịu… bủa vây, và không ai có được một góc nhỏ để thu mình lại. Từng cá nhân ít được sống cho cái riêng mà thường dành nhiều quan tâm đến niềm vui, nỗi buồn của mọi người trong gia đình…
Thật ra, cũng chẳng nên luận bàn hay dở, khen chê ở đây làm gì, vì đó là nét riêng thuộc phạm trù văn hoá một vùng đất. Và nét riêng nào cũng có cái đáng yêu của nó, nhất là khi chúng đã trở thành những gì của hồi ức và kỷ niệm.
Thành phố Huế nhỏ, khiêm tốn đến mức “ở một nơi, dường như ai cũng quen nhau”. Gia phong, nếp nhà và búa rìu của dư luận thường xuyên hiện hữu như một vị thẩm phán nghiêm khắc, mà bất cứ người Huế nào, nhất là phụ nữ, những nàng “Tôn Nữ” tội nghiệp, luôn mang mặc cảm như kẻ phạm tội, mà tội danh chỉ lấp ló, rập rình ở đằng trước, với những chứng cứ mơ hồ và rất đỗi dễ thương.
Trong lòng một đại gia đình Huế “chui” ra, nhiều lúc tôi tự hỏi, tại sao mình lại nhớ, nhớ đến ray rứt những kỷ niệm không mấy êm dịu và “văn minh”, về những trận đòn của nhiều loại tội danh khác nhau trong đời. Lẽ ra, tôi chẳng nên bàn ở đây, vì tuổi thơ thời nào và bất cứ đâu mà chẳng vướng phải, nhưng qua câu chuyện về nạn nhân của một lối giáo dục vừa nghiêm khắc, vừa nghệ sĩ, tôi thấy đâu đó cái niềm riêng và tự nhiên tôi muốn chia sẻ cùng Huế… Có những trận đòn mà cơn đau không hiểu sao, mỗi lần nhớ về nó, tôi lại thấy “nhói” lên chút cảm giác khó tả của cái “thú đau thương” (thì ra, cảm giác ấy không chỉ dành riêng cho những kẻ yêu nhau).
Nhà tôi trước sau đều có nhiều cây ổi, ổi trồng lẫn ổi hoang, hầu như lúc nào cũng có trái chín, không ổi sẻ thì ổi lòn, không ổi lòn thì ổi nếp, ổi xa lỵ, ổi Tàu, ổi Xiêm… Đám trẻ vì thế, có thể vác sào lang thang suốt ngày dưới những gốc ổi, bên tiếng la lấy lệ của người lớn vì tội dang nắng hoặc sợ chúng ăn nhiều, thình bụng, bỏ cơm…
Được tự do đẫm mình trong rừng quà cây trái, nhưng chúng tôi vẫn cứ mòi ngắm nghé những trái ổi “thiêng”. Càng bị cấm, chúng tôi càng thèm đến chảy nước miếng những trái ổi sẻ trắng ngần, mọng nước trong các chậu cảnh của ba.
Gặp phải tình thế như vậy, chúng tôi thường ngậm ngùi lẩm nhẩm câu “danh ngôn” của thân phụ trên tấm gỗ kiền kiền, gắn vào gốc ngọc lan ở góc vườn. Bên trên hằn lên dòng chữ đĩnh đạc, đầy chất răn đe:

“Cây, hoa, quả, làm đẹp cảnh ngoạn mục
Bẻ hái giảm vẻ đẹp, hành vi cũng không đẹp”

Bên dưới ôn tồn hơn:

“Cảnh vật gấm vóc non sông.
Thức giả biết bảo tồn, bảo vệ”.

Chuyện trên thôi cho qua. Nhưng, có một cây ổi mà hôm nay, khi nghĩ về nó tôi vẫn cứ còn ức, bởi nó chẳng phải là cây cảnh, trái không đẹp, cũng không ngon vì ruột nhiều và hột cũng lắm. Thế nhưng, ba tôi không bao giờ cho con cái đụng vào, vì một lý do duy nhất: ổi của chim.
Thân cây ổi quỷ này dài thườn thượt, cành lá thì khẳng khiu, đáng ghét, nhưng nó được cưng vì mọc sát cửa sổ phòng ngủ của ba. Đám chim buổi sớm, tụ tập từng đàn, ríu rít trên cành. Cho nên, nó trở thành “cây thiêng”. Chính vì chúng tôi không được đụng sào tới, nên nó luôn có trái chín. Và, cũng chính vì quả cấm, nên lúc nào chúng tôi cũng ao ước muốn chiếm đoạt…

    Ba tôi thường dậy uống trà sớm. Việc uống trà của ông cầu kỳ tới mức tôi không còn hơi sức nào để luận bàn ở đây. Nhấp ngụm trà sớm và nghe chim hót trên cành ổi, ấy là niềm “hoan lạc” tuyệt đỉnh của ba tôi. Để tăng thêm phần thuyết phục, ông thường kêu chúng tôi đứng cạnh và giảng giải:
– Ba có thể treo vài lồng chim trước cửa phòng, và dĩ nhiên, chúng có thể ăn bất cứ loại trái nào mà các con muốn cho, nhưng chim ở trong lồng thì chỉ có kêu chứ không hót.   Sự tự do, thảnh thơi bay lượn trong bầu trời xanh, mới là điều đáng để ca ngợi và tiếng hót hay cũng xuất phát từ đó. Con người khóc khi gặp chuyện khổ đau, nhưng khi niềm hạnh phúc đến bất chợt, họ cũng khóc. Hai dòng nước mắt ấy đều mặn, nhưng đâu có giống nhau. Các con đồng ý không nào?
Chúng tôi lúc ấy thầm nghĩ: “Ôi! Có thể là ba nguỵ biện, bởi chim trong và ngoài lồng hót hay kêu có gì khác nhau?”. Đây có thể là luận điểm của người thèm trái cấm, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa ai chứng minh điều ấy là sai. Ba tôi như đọc được ý nghĩ của con, nên giải thích thêm:
– Hôm qua có con chích choè hót sớm câu: Nhị kỳ nhất chí chi! (Dĩ nhiên, đó là lời con người đặt cho tiếng nhạc chim). Hôm nay nó lại hót hay hơn: Nhị thừa nhất chí chi! Pháp. (Ý rằng: Đại thừa hay tiểu thừa đều một cành mà ra – ấy là pháp vậy).
Tất cả đều gật gù như có vẻ cảm thông, vì ba là thần tượng của chúng tôi mà. Biết thế, nhưng cuối cùng, tôi cũng không thể nào chống lại được sự cảm dỗ của trái cấm…
Cớ sự bắt đầu từ chuyện chiếc lu nước dưới gốc ổi “thiêng”. Trên lu là chậu sành và trong chậu là đôi đũa ngà, chiếc vịm và hai cái chén, một lớn, một nhỏ (xin nói nhỏ: vịm dùng để đựng cháo nếp, chén nhỏ để bỏ cục đường đen, chén lớn chứa ván sữa đậu nành, loại chất lỏng thường ứa ra trên chiếc ghè của những cô bán đậu hũ). Chúng thường xuyên có mặt ở đó sau mỗi bữa ăn của ba tôi. Nhà bếp không được hân hạnh đụng đến. Ông tự tay rửa chúng từ mấy chục năm nay, bởi, đó là kỷ vật mạ tôi đã tặng ba khi hai người mới quen nhau. Trên thành chén có hoạ tiết Thuý Kiều đang gảy đờn cho Kim Trọng nghe (giữ mảnh vỡ cho đến bây giờ, vì vẫn còn tức tối, cho nên, tôi vẫn gọi đó là Hồ Tôn Hiến chứ không phải Kim Trọng?!).
Chuyện tày đình xảy ra khi ba tôi vắng nhà và trái ổi cấm đầu tiên tôi hái lại rất “khôn ngoan, nịnh chủ” rớt ngay vào chồng chén… Tôi lặng người và có cảm giác như mới vừa nhận được một kết quả xét nghiệm không lành. Chân tay lạnh buốt, cây sào rời khỏi tay rơi xuống, tạo nên tiếng kêu khô khốc, tàn nhẫn… Lúc ấy, tôi không khóc, bởi ở một cường độ nào đó của sự lo sợ, nước mắt hình như chảy ngược vào tim.
Kết quả: Ba tôi ngồi trên sập với chiếc hộc tộ quen thuộc, đọc kinh Phật (đây là những bản kinh quý bằng chữ Hán, nằm trong tủ sách của Hoà thượng trú trì chùa Từ Đàm thời bấy giờ), bên cạnh là cây roi mây bóng loáng bởi tiếp xúc quá nhiều với đũng quần của tôi (đầu thanh roi có cột một nùi giẻ, để ba tôi chùi chai khi cần đến). Cứ đọc xong một trang kinh, ba lại trót vào mông tôi một cái nên thân. Ông nói thật bình thản:
– Cái quý nhất bị bể (ý ông nói đến chồng chén kỷ vật), ba không tiếc bằng việc con không nghe lời, khi đã được giải thích cặn kẽ. Một việc hoàn toàn không khó đối với con, bởi vườn nhà mình có quá nhiều ổi.
Buổi “diễn tập ngọt ngào” ấy kéo dài đến mấy tiếng đồng hồ tôi không rõ (cả hai ba con đều không ăn trưa), chỉ biết khi ngẩng đầu lên, tôi thấy mạ mình đang thập thò ở cửa phòng, chẳng biết bà đang ràn rụa nước mắt, hay chính tôi đã nhìn bà qua làn nước mắt của mình. Nói đến điều này, bỗng dưng ý nghĩ “cổ hủ” từ lâu tôi muốn quên lại hiện về: Răn dạy con theo phương châm “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” của cha ông ta xưa có thật hoàn toàn phi lý không?. Tôi chẳng muốn bàn lúc này chuyện chúng ta đã và đang thừa nhận không chỉ với nhau, mà bằng công ước quốc tế, vấn đề tôn trọng quyền của trẻ, không xâm hại chúng dưới bất cứ hình thức nào. Mọi phương pháp giáo dục phải trên cơ sở hướng dẫn, phân tích, đối thoại…
Vâng! đó là điều dễ nghe. Từ lâu bằng lý trí, và để tỏ ra mình đã tiếp cận được cái mới, tôi đã rất đồng tình. Nhưng, điểm bâng khuâng mơ hồ của tôi ở đây: có phải là cứ mỗi nền văn hoá lại hàm chứa tính giáo dục trẻ theo cách của mình, và mọi biện pháp không thể khác, áp dụng sau đó, đều có lý do của nó. Hay có thể diễn đạt một cách cụ thể hơn là quá trình nuôi nấng, chăm sóc trẻ phải phù hợp với cách giáo dục riêng, mà nhiều lúc, sự phối hợp ấy có thể tạo nên những điều tiết hợp lý, để hoàn thiện nhân cách của trẻ.
Phần lớn những đứa trẻ phương Đông, nhất là ở xứ ta, từ khi sinh ra cho đến lúc ôm cặp đến trường, bố mẹ như những vị thần đầy quyền năng che chở cho chúng.
Em bé Việt được bú mẹ lâu dài, bú bất cứ lúc nào khi báo qua tín hiệu của tiếng khóc. Cứ khóc lên là có bụ mẹ; ngủ với mẹ suốt năm đầu tiên, có khi nhiều năm sau chào đời. Lúc nào cũng được mẹ bồng ẵm, dỗ dành; vấp ngã chút xíu là được cả nhà quan tâm. Được chiều chuộng ngay cả những lúc nổi “chướng”, đòi hỏi những chuyện không hợp lý.
Mọi sự chăm sóc ngoài mức cần thiết ấy dẫn đến tính cách đầu tiên được huân tập của đứa trẻ là thói ỷ lại, dựa dẫm, luôn luôn cần sự che chở, thói quen tự lập yếu trong cách sống lẫn tư duy…
Những đứa trẻ hưởng được sự chiều chuộng và luôn luôn được người lớn nhìn dưới hình ảnh nhỏ bé, tội nghiệp, và hoàn toàn chưa biết gì. Từ đó, xem việc con ngừng khóc trong mọi trường hợp là mục đích mà bố mẹ cần đạt được. “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, phản ánh nhu cầu ấp yêu quá mức đối với trẻ, nhiều lúc, đơn thuần đó là nhu cầu, chứ không phải từ yêu cầu của chính đứa trẻ. Ngăn ngừa tiếng khóc để khỏi ảnh hưởng đến công việc đang ngập đầu của mình, đôi lúc cũng được giải quyết bằng bầu sữa mẹ. Đây cũng là điểm đặc thù cần được nhìn nhận công bằng.
Để khắc chế sự nhìn nhận dễ dãi ấy, ngay từ lúc con biết vui, biết sợ, biết biểu lộ cái ta, lòng tự ái… thì bố mẹ đã phải theo tuổi của con, thể hiện sự răn đe bằng những biện pháp cương quyết, để con có cơ hội nhìn lại mình. Đây được xem là phương thức hoá giải những bất ổn của thời kỳ nuôi nấng ban đầu đầy ắp sự ấp ủ, chiều chuộng. Những gì cần thiết và buộc lòng phải có, để điều chỉnh những hậu quả tất yếu của giai đoạn trước để lại. Triết lý “thương cho roi cho vọt…” phải chăng từ đó mà hình thành. Người phương Tây làm sao hiểu được người phương Đông khi đánh con họ đã tỉnh táo như thế nào: chọn cây roi không gây thương tích cho con, tìm cho được cái mông con mới đánh, vừa đánh vừa răn dạy; và người đánh, lòng còn đau hơn kẻ bị đánh. Tất nhiên, có những bố mẹ đánh để trút giận lên đầu con, để thoả mãn sự độc tài của mình, nhưng tôi tin rằng họ nằm trong số rất ít và hoàn toàn không đại diện cho lối giáo dục mà tôi đang đề cập.
Tôi muốn nhắc lại rằng mình có thể sai ngay khi viết những điều này, nhưng không hiểu sao, tôi cứ mãi trung thành với ý nghĩ: cứ mỗi nền văn hoá lại có những đặc điểm riêng, và rõ ràng; không thể đứng ở nền văn hoá này để phê phán hay xác nhận sự bất hợp lý ở một nền văn hóa khác qua một số hiện tượng mà không hiểu nguyên uỷ của nó.
Cho nên, nếu phải khóc thầm vì thương con trong khi đánh nó, tôi cho rằng, đó không phải là hành động xâm hại trẻ của phụ huynh mà là một sự điều chỉnh cần thiết với những gì chúng “bị hay được” nhận trước đó từ sự nuôi dưỡng và giáo dục trong nền văn hoá cổ truyền vốn có. Câu trả lời đúng sai trong cách nhìn nhận này, chúng ta có thể nhìn thấy ít nhiều từ hiện trạng xã hội.
Cho đến hôm nay tôi vẫn không hề oán giận những làn roi của thầy giáo cô giáo ngày xưa, thậm chí ba mạ tôi còn tự hào vì con mình được học một trường có giáo dục nghiêm. Và tôi cũng cho rằng mình khó có thể học tốt vào thời điểm đó, nếu không nhận ít nhiều những dạng răn đe ấy. Tôi nhớ và thương những thầy giáo cô giáo đã cho tôi những ấn tượng khó quên, dù đó là cảm giác chẳng êm ái bao nhiêu. Và, tôi cũng chẳng bao giờ quên những trái ổi cấm vườn nhà, với lòng nhớ thương vô hạn khi nghĩ về ba tôi, đơn giản bởi vì tôi từng là đứa bé phương Đông.
Ngàn lần tôi không có ý cổ xuý cho cái cũ, nhưng, muốn tính đến sự hiệu quả của một quan niệm giáo dục, chúng ta phải bắt đầu từ tập quán nuôi nấng, đối xử với trẻ sơ sinh; hãy cho nó có ý thức trách nhiệm về cá nhân ngay từ những thói quen ban đầu… Tôi hiểu điều ấy, nhưng vẫn không thực hiện được, tôi vẫn có nhu cầu ấp yêu, che chở, bảo bọc con tôi quá mức cần thiết so với tuổi của nó, cho nên, lúc nào chúng cũng tự cảm thấy nhỏ bé, xuất hiện một cách thiếu tự tin trước người khác, và luôn có những biểu hiện khép mình, tránh đối thoại và ưa che giấu lầm lỗi.
Thế hệ của chúng tôi đã ăn phải trái cấm ngày xưa, nên cũng khó cách tân một cách triệt để, dù vẫn biết mọi điều rồi cũng phải khác đi và “tiến bộ” hơn. Thôi thì cứ tập để quên dần chuyện mình đã lớn lên một cách khá tử tế từ những lằn thâm tím trên mông và một chuỗi kỷ niệm khó quên xung quanh chiếc roi mây ngày nào.

Nguyễn Hữu Thông
(Theo Văn hóa miền Trung)

Similar Articles

Bắp làng

Bắp làng 0

Sáng ni thèm bắp quá chừng, chạy xe lòng vòng đón mấy o bán bắp

Quà quê

Quà quê 0

Mải mê với cuộc mưu sinh xứ người, Sài Gòn đô thị ngột ngạt nắng,

Sầu đông

Sầu đông 0

Hoài niệm của con người, đôi khi không phải ở một điều gì đó thiêng

Làng nơi ven đầm Cầu Hai

Làng nơi ven đầm Cầu Hai 0

Hơn 500 năm trước, những làng quê đầu tiên đã xuất hiện ven đầm Cầu

Dưới nắng giao mùa

Dưới nắng giao mùa 0

Vẫn là khung cảnh cuối xuân đầu hạ, vẫn là thời tiết mưa nắng gối

No Comments

No Comments Yet!

No one have left a comment for this post yet!

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose