Văn hóa Huế | Homepage

Sự ra đời của Bệnh viện Trung ương Huế

0 Comments 🕔22.Dec 2014

1313133165.nv[1]Ảnh: Internet

Trước những trận dịch bệnh “kỳ lạ” xuất hiện ở xứ này ngày nhiều vào cuối thế kỷ XIX mà bấy giờ các thầy thuốc Đông y khó có thể chữa trị kịp thời, và do nhu cầu của dân chúng bởi những hiệu quả chữa bệnh theo lối Tây y đem lại khá nhanh, nhất là về phương diện phẫu thuật nên rất cần thiết phải thành lập một sơ sở chữa bệnh tập trung.

Việc thành lập cơ sở khám chữa bệnh theo lối Tây y này được ghi lại trong “Thương Gia Bệnh Sở“, sách Đại Nam Nhất Thống Chí quyển II, các trang 16a, 16b và 17a của Quốc Sử Quán triều Duy Tân, biên soạn xong năm 1906, khắc in năm Duy Tân thứ 3 (18/1/1910).

Đây là bản dịch “Sở Nhà thương” của Tư Trai Nguyễn Tạo in trong Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập II, Nha Văn Hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, năm 1961, trang 40-41. Tư liệu do nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đắc Xuân cung cấp:

Ở chỗ đất trống nền cũ của trại lính Thủy, năm Thành Thái thứ 6 (1894) cất 1 tòa nhà trước 3 gian 2 chái, một dãy nhà sau 5 gian và nhà bếp, năm thứ 7 lại cất 1 dãy nhà 7 gian để làm chỗ dưỡng bịnh, đến nay lần lần cất thêm một tòa nhà ở chính-trung ngó về hướng đông, 3 gian 2 chái, làm chỗ cho quan tư người Pháp cư trú. Gần ở phía nam cất lầu 2 tầng, 4 mặt làm cửa khuôn gương, tầng trên để quan Tây nằm dưỡng bịnh, tầng dưới để người Tây nằm dưỡng bịnh và đầm Tây khi nằm sinh đẻ. Gần ở phía bắc có cất 2 nhà cổ-lầu (hay cổ đảng) mỗi nhà đều 2 gian 2 chái ở phía đông cửa bắc. Một nhà phía tây để làm chỗ cho người Tây và người Nam làm việc, 1 nhà ở phía đông làm chỗ xin thuốc và cho thuốc các người bịnh.

Phía tây nhà chính-trung có cất 1 cái cửa tam-quan 3 gian, 2 bên tả hữu đều cất nối 1 cái nhà, mỗi nhà 2 gian. Nhà phía bắc làm chỗ mổ xẻ cho người bịnh, nhà phía nam là chỗ để người được mổ xẻ xong đem đến đấy cho thuốc.

Giữa đắp 1 đường thẳng, phía tây con đường cất 1 nhà 2 gian để tắm gội. Còn 2 bên đường: phía bắc cất 3 lớp nhà: lớp thứ nhất gần phía bắc con đường cất 1 tòa (2 gian 2 chái để làm chỗ lâm sản dưỡng bịnh), lớp thứ 2 lần xa ngoài phía bắc, cất 2 dãy nhà dài (mỗi dãy nhà đều 9 gian chái: một nhà để đàn ông nằm dưỡng bịnh, một nhà để đàn bà nằm dưỡng bịnh). Phía bắc gần nơi La-thành cất 3 nhà (đều 3 gian 2 chái, 1 nhà làm kho chứa thuốc, 1 nhà để nữ-quan Pháp hộ-sản ở, 1 nhà để nữ-quan Việt hộ-sản ở). Phía nam cất 4 lớp nhà: lớp thứ nhất gần phía nam con đường cất 1 nhà (2 gian 2 chái, tương đối với nhà ở phía bắc con đường để làm chỗ cho các Thông-ngôn Ký-lục dưỡng bịnh), lớp nhà thứ hai hơi xa phía nam con đường cất 2 dãy nhà dài (mỗi dãy 9 gian 2 chái, tương đối với dãy nhà phía bắc, 1 nhà làm chỗ cho lính Tập dưỡng bịnh, 1 nhà làm chỗ cho các nhi-đồng dưỡng bịnh). Xế trong phía nam, cất 1 nhà (2 gian 2 chái làm chỗ cho phạm-nhân và người điên cuồng dưỡng bịnh). Nơi góc thành xiên phía tây nam cất 1 nhà (theo lối nhà Việt-Nam 12 gian 2 chái, làm chỗ cho các Kỹ-nữ nằm dưỡng bịnh và để cho thuốc).

Phía sau nhà tắm gội, có cất 1 nhà 5 gian, trong đó 2 gian để xe Khí-hỏa (lửa điện) để đốt các uế-vật, 3 gian để người nào bịnh nặng gần chết dời nằm đây.

La-thành 4 phía, trên trồng sắt thưa, dưới xây vách gạch; các phòng ốc cao rộng sáng sủa và sạch sẽ đều theo lối Âu-tây“.

Theo bác sĩ Gaide, Giám đốc Nha Y tế Trung kỳ, kiêm Giám đốc Bệnh viện Huế từ 1913 đến 1916, tác giả của bài Y học châu Âu tại Việt Nam xưa và nay in trên Tạp chí BAVH, số tháng 10-12 năm 1921: “Năm 1894, dưới sự hướng dẫn của Bác sĩ Normand, người ta dựng lên bên ngoài Tòa Khâm, trên một khu đất riêng biệt, ở giữa các ruộng lúa, gần vị trí hiện nay của nhà kho bạc, một trạm xá y tế khác (Le Premier hôpital actuel) lớn hơn gồm 4 phòng (phòng khám, phòng phát thuốc, phòng băng bó và một phòng bệnh nhân khoảng 10 người). Nhưng trạm xá này tỏ ra không đáp ứng đầy đủ yêu cầu, và đã được làm nơi chữa trị miễn phí cho gái mại dâm, dưới quyền quản lý của viên cảnh sát thuộc phủ Thừa Thiên. Do đó, người ta thấy cần phải xây dựng một nhà thương đầu tiên. Nhà thương được xây cất dưới sự bảo trợ của Chính phủ An nam với vật liệu xây cất lấy từ việc tháo gỡ một ngôi nhà của nội vụ, tạo nên một dãy dài 60m, được chia làm nhiều phòng, trong đó có một phòng được dành để vừa khám bệnh vừa băng bó, và 6 phòng dành làm chỗ nằm cho bệnh nhân“…

Trước những đòi hỏi bức bách về cơ sở chữa bệnh theo lối Tây y, cả Tòa Khâm sứ và chính quyền Nam triều đều thấy cần thiết phải xây dựng ngay một cơ sở chữa bệnh dân sự lớn hơn. Yêu cầu này nhanh chóng được đáp ứng.

Vào cuối năm 1894, vua Thành Thái đã cho tháo dỡ lấy vật liệu từ môt ngôi nhà nội vụ trong Kinh thành Huế để xây dựng mọt bệnh viện thay thế cho trạm xá cũ; nơi xây dựng bệnh viện mới cũng nằm trên phần đất vốn là địa điểm đóng những đơn vị Thủy sư từ thời Gia Long, Minh Mạng, ở về bờ nam sông Hương, và chỉ cách trạm xá cũ một khoảng vài trăm mét, tức cái chỗ hiện nay Bệnh viện Trung ương Huế đang tọa lạc. Bệnh viện mới xây là một dãy nhà dài 60 mét, chia thành nhiều gian để làm phòng khám bệnh, phòng băng bó và có 6 gian lớn dành cho bệnh nhân nội trú.

Bác sĩ Henry, thầy thuốc chính của các thuộc địa đến Huế từ ngày 1/2/1895, với tư cách là thầy thuốc của Tòa Khâm sứ và của Phái bộ Pháp, ông được ủy nhiệm giữ chức Bệnh viện trưởng. Cùng với Bác sĩ Henry, có hai thầy thuốc của Thái Y viện: một vị quan Tòng Tứ phẩm tên là Liên, một vị Chánh Bát phẩm tên là Bùi Tư được triều đình Huế cử sang làm phụ tá cho Bệnh viện trưởng, còn có hai y sinh giúp việc và một người vừa làm thông ngôn vừa làm thư ký kiêm y tá phát thuốc, có tên là Đàm. Bấy giờ người ta gọi cơ sở này là Bệnh viện Bản xứ (Hôpital autochtones).

Tại cơ sở này, lần đầu tiên, người Việt, chủ yếu là các thành viên của hoàng tộc nhà Nguyễn, các quan chức triều đinh Huế có bệnh đều nhờ đến sự săn sóc của các thầy thuốc Tây y. Cụ thể hơn, vào tháng Chạp năm 1895, vua Thành Thái đã cho vời Bác sĩ Bệnh viện trưởng Henry vào nội cung chăm sóc thuốc men cho hai bà phi của nhà vua lâm bồn cách nhau có vài ngày.

Nhờ có cơ sở chữa bệnh theo lối Tây y ra đời ở Huế khá sớm mà lần đầu tiên, các thầy thốc Việt Nam biết cách và được phép tiêm chủng cho người dân. Cách phòng bệnh mới mẻ này đã được dân chúng hoan nghênh và vội vàng kéo nhau đến, nên trong năm đó bệnh viện đã tiêm chủng cho hơn 40 ngàn người tại Huế. Và cũng lần đầu tiên, các thầy thuốc Việt Nam được hưởng thù lao 5 xu với mỗi người dân được tiêm chủng có kết quả tốt…

Trong quá trình xây dựng, chỉ độ một thời gian ngắn, vào năm 1897, bệnh viện đã có thêm hai ngôi nhà lớn dành cho bệnh nhân thường với 200 giường. Hai ngôi nhà nhỏ cho những bệnh nhân ở các đẳng cấp cao trong xã hội và một ngôi nhà thuốc. Sau lại xây thêm một ngôi nhà dành cho người châu Âu. Số lượng thầy thuốc Tây y đã tăng lên đáng kể, người Việt đến khám và chữa bệnh ngày càng nhiều hơn…

Nhưng cơ sơ này cũng chỉ tồn tại được một thập kỷ. Vào năm Giáp Thìn 1904, một trận bão lớn đổ bộ đến Huế, sức gió rất mạnh đã đánh sập cầu Trường Tiền, tàn phá tan hoang nhà cửa cầu cống, Sở Nhà thương không còn một chỗ nào có thể hoạt động được. Trước những tổn thất ấy, đầu năm 1907, triều đinh Huế đã chi hỗ trợ 4000 đồng cùng Tòa Khâm quyết định xây lại bệnh viện với quy mô lớn hơn, nhiều cơ sở điều trị được mở rộng và xây thêm. Phòng bệnh dành cho người Âu, dành cho quan lại người Việt, phòng bệnh cho nam, nữ nằm riêng; sân vườn được quy hoạch khang trang hơn trước, y bác sĩ cũng tăng thêm; nhiều ca phẫu thuật cấp cứu được thực hiện ngay tại bệnh viện, có kết quả tốt…

Đây là giai đoạn khá dài trên 20 năm bệnh viện nhận được sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng về nhiều mặt của chính quyền, như tăng cường thầy thuốc, tổ chức xây dựng, lập thêm nhiều khoa phòng chức năng để phù hợp với cơ cấu ban đầu của một bệnh viện Tây y.

Bên cạnh “Bệnh viện Bản xứ” ở Huế, người ta cũng đã cho xây dựng thêm một số bệnh viện hạng hai ở Thanh Hóa, Vinh, Hội An, và Quy Nhơn; những trạm xá ở Hà Tĩnh, Đồng Hới, Quảng Ngãi, Sông Cầu, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết và Kon Tum… Và một bệnh viện thành phố bản xứ ở Đà Nẵng. Ngay tại Huế, ngoài “Bệnh viện Bản xứ” cũng có những trạm y tế lưu động như ở Thuận An, ở Mang Cá và một số trạm y tế nhỏ hơn để chữa bệnh cho người dân trong Thành nội được xây dựng… Để người dân dễ phân biệt và tránh được nhầm lẫn với những trạm y tế này, người ta đổi tên “Bệnh viện Bản xứ” thành Bệnh viện Chính (Hôpital Principal de Huế).

Bệnh viện Chính là để chỉ toàn bộ khu vực mặt bằng kiến trúc của bệnh viện. Nhưng bên trong Bệnh viện Chính lại được chia làm hai khu vực: Mặt trước rue Jules Fery (nay là đường Lê Lợi) người dân quen gọi là Nhà thương Lớn (Grand hôpital); khu chạy dọc theo ru Rheinard (nay là đường Ngô Quyền) thường gọi là Nhà thương Thị xã (Les Petts hôpitaux) – ngụ ý là nơi bệnh nhân đến khám, phát thuốc rồi về nhà điều trị (vì Nhà thương Thị xã không có chỗ nội trú). Gọi như thế để phân biệt với Nhà thương NhỏNhà thương Thành nội và các cơ sở chữa bệnh khác ở xứ Trung Kỳ.

Những năm về sau, người ta căn cứ vào vị trí và chất lượng khám chữa trị của bệnh viện khu vực Trung Kỳ đóng tại Kinh đô nên gọi tắt là Bệnh viện Huế.

Từ năm 1944, khi Bác sĩ Gourvil làm Giám đốc Bệnh viện Huế, uy tín và sức lan tỏa của bệnh viện lúc này bao trùm toàn bộ miền trung, nhiều thầy thốc giỏi làm việc tại đây, nhiều khoa phòng chuyên môn sâu được thiết lập, cơ cấu tổ chức lại đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nha Y tế Trung Việt, nên Bác sĩ Gourvil đã cho đổi tên thành Bệnh viện Trung ương Huế (Hôpital Central de Huế). Để thêm được hai chữ “Trung ương” vào cụm từ tên riêng của bệnh viện phải mất rất nhiều năm và dĩ nhiên chất lượng chuyên môn và cơ sở chữa trị, thuốc men của bệnh viện đã hoàn toàn khác trước.

Đấy là các tên hành chính của bệnh viện theo từng giai đoạn, từng thời kỳ, nhưng dân gian vẫn quen gọi Bệnh viện Trung ương Huế với cái biệt danh nghe vừa trìu mến vừa dễ gần là Nhà thương Lớn hay Sở Nhà thương, đến nay nhiều người vẫn dùng danh từ này để chỉ bệnh viện.

Dương Phước Thu
(Theo Kỷ yếu “120 năm-một mốc son cho một hành trình mới” – BVTƯ Huế)

Similar Articles

Ngỡ ngàng A Don

Ngỡ ngàng A Don 0

Suối A Don nằm sâu trong cánh rừng nguyên sinh thuộc thôn Hạ Long (xã

Vết tích phố thợ nhuộm

Vết tích phố thợ nhuộm 0

Phố Đông Hội được thành lập trên phần đất của làng Thế Lại, Lạc Nô,

Lầu Minh Viễn trong thơ Minh Mạng

Lầu Minh Viễn trong thơ Minh Mạng 0

Nguyễn Huy Khuyến           Lầu Minh Viễn là một công trình kiến trúc nổi tiếng trong

Huyền thoại về “rùa thần” nặng nghìn ký dưới sông Hương

Huyền thoại về “rùa thần” nặng nghìn ký dưới sông Hương 0

Sông Hương đoạn trước điện Hòn Chén - nơi được cho là có “rùa thần”

Vương phủ – nhà vườn xứ Thần kinh

Vương phủ – nhà vườn xứ Thần kinh 0

Kỳ 1: PHỦ ĐỆ – NƠI LƯU GIỮ HUẾ XƯA Du khách đến Huế, dường như ai

No Comments

No Comments Yet!

No one have left a comment for this post yet!

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose