Văn hóa Huế | Homepage

Sướng như ông Hoàng

🕔09.Feb 2015

“Sướng như ông Hoàng”hay “Sang như ông Hoàng” – Hoàng đây là hoàng tử, là những thành ngữ Huế rặt mà tôi thường nghe mệ ngoại  tôi và mạ tôi nói mỗi khi các bà muốn diễn tả về sự sung sướng, sang trọng của một người đàn ông nào đó. Nhưng đến khi biết được cuộc đời của mấy ông hoàng, tôi đâm ra nghi ngờ và tự hỏi: sướng như ông hoàng, thiệt không?
Hoàng tử là con trai của vua, sướng từ lúc lọt lòng mẹ là chuyện đương nhiên, ai cũng biết. Thêm vào đó , “cái sướng” này còn được phép vua qui định, bảo vệ, thì nhất định nó là một thực tế hiển nhiên.  So với cuộc sống vất vả của người dân, phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” thì cái sướng trước mắt của ông hoàng là không phải lo cơm áo gạo tiền, lại được nhà cao cửa rộng (phủ đệ), ăn ngon mặc đẹp, ơn vua lộc nước ban cho đầy đủ Theo lệnh vua Minh Mạng (1820-1840), hoàng tử sinh được 100 ngày thì bế vào ra mắt vua cha, xong chiếu theo Đế hệ thi (1) mà đặt tên, đầy tuổi thôi nôi thì đã có lương bổng vua ban. Lương bổng này (tính theo năm) lớn dần theo tuổi tác (và tước vị được phong, nếu có):
-Tử 1 đến 10 tuổi: tiền 150 quan, gạo 150 phương;
-Tử 11 đến 17 tuổi: tiền 200 quan, gạo 200 phương;
-Từ 18 đến 29 tuổi: tiền 300 quan, gạo 300 phương;
-30 tuổi trở lên: tiền 400 quan, gạo 300 phương (Thực lục III, tr.430-433).
Muốn biết quyền lợi này nhiều ít thế nào thì hãy so sánh với lương bổng các quan. Đời  Gia Long (1802-1819) quan chánh nhất phẩm (cực phẩm triều đình) mỗi năm lãnh 600 quan, gạo 600 phương và 70 quan phụ cấp áo quần, gọi là tiền xuân phục. Đến đời Minh Mạng (1820-1840), bớt xuống còn 400 quan và 300 phương gạo, phụ cấp áo quần như cũ.

Nơi hoàng tử sinh ra
Hễ nói tới nơi sinh của hoàng tử hay công chúa,mười người như một đều nghĩ rằng tất cả đều phải được sinh ra trong cung cấm, vì, như người ta  thường kháo nhau, khi vua gần với bà nào, thái giám đều có ghi chép vào sổ sách ngày tháng rõ ràng để sau đổi chiếu với ngày sinh mà biết thiệt giả, đề phòng lạc giống lộn sòng. Với Nhà Nguyễn, thật ra không phải hoàng tử nào cũng được sinh ra trong cung cấm (trong Tử Cấm thành), nhất là các hoàng tử lớn tuổi. Như vua Minh Mạng, mãi đến năm 1816 mới được phong Thái tử, ở cung Thanh Hòa, bên trái hoàng thành (khu Tam Tòa ngày nay) nhưng trước đó, khi đang cỏn là Ông Hoàng Tư (hoàng tử thứ 4 của vua Gia Long) đã có phủ riêng, đã lập phủ thiếp (vợ chánh của hoàng tử), đã có năm ba dắng (vợ bé của hoàng tử) đã sinh con đầu lòng là công tử Miên Dung vào năm 1807 tại ấp Xuân Lộc nằm bên bờ sông Đông Ba (Hữu Hộ thành hà) phía đông Kinh thành Huế.  Đó chính là vua Thiệu Trị sau này (1841-1847), vì vậy, để kỷ niệm nơi sinh ra của một hoàng đế, về sau, vua Thiệu Trị cho lập ở đó một ngôi chùa lớn, đó là chùa Diệu Đế hiện nay.
Còn vua Tự Đức, con thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh năm 1829, nhằm năm Minh Mạng thứ 10; lúc đó vua Thiệu Trị đang còn là hoàng tử, được phong tước Trường Khánh Công, có phủ riêng, bên ngoài Hoàng thành (Đại Nội).  Trường hợp vua Thành Thái (1889-1907), sinh năm 1879. và vua Bảo Đại, sinh năm 1913, cũng đều sinh ngoài Tử Cấm thành. Người ta gọi chỗ ở cũ của các vua khi chưa lên ngôi là tiềm để,ngụ ý nơi đó cũng như nơi đáy  biển  rồng vàng (tướng tinh của vua) ẩn náu, chờ ngày vùng vẫy tung mấy lướt gió.  Như vậy, chỉ có các hoàng tử hay hoàng nữ nào sinh sau khi vua cha lên làm vua thì mới được diễm phúc sinh ra trong cung cấm, chẳng hạn Hoàng tử Vĩnh San , tức vua Duy Tân (1907-1916), sinh năm 1900. bấy giớ là năm thứ 12 đời Thành Thái (vua cha).

Việc nuôi dạy hoàng tử
Khi còn bé, các hoàng tử ở với mẹ; nếu thông minh ham học, chừng bốn năm tuổi đã bắt đầu được các nữ sư trong cung dạy chữ, chẳng hạn Hoàng tử Miên Thẩm (tức Tùng Thiện Vương,em vua Thiệu Trị), sinh năm 1819, rất thông minh, mới 4 tuổi đã theo học với nữ sư , 7 tuổi đã biết đọc và thưởng thức thơ, mặc dủ chưa biết luật thơ là gì, 8 tuổi đã biết làm thơ (Thế phả, tr.291-292).  Chừng 5,6 tuổi thì không ở chung với mẹ nữa, anh em sống tập trung một khu vực riêng, có người phục vụ, có nhà học và thầy dạy riêng.  Trong hồi ký Con rồng Việt Nam, Cựu hoàng Bảo Đại đã ghi lại rằng: “Khi lên năm thì tôi không còn được ở trong cung của các bà hoàng phi, cùng với bà nội tôi, là Đức Thái hoàng Thái hậu, mà phải đưa sang phía Đông cung, gọi là Thanh cung… Cung này có một buồng ngủ, một phòng khách,một phòng ăn, và dãy nhà phụ thuộc. Vài kẻ hầu cận. Hàng ngày, viên quan phụ đạo đến dạy tôi học chữ nho…” (tr.26) . Trong Tử Cấm thành, khu vực phía đông bắc, là nơi nuôi dạy các hoàng tử trước khi cho xuất các (ra lập phủ riêng).Tùy triều đại, nhà học dành cho các hoàng tử và hoàng thân tuổi nhỏ mang các tên khác nhau, chẳng hạn Tập Thiện đường (đời Gia Long), Dưỡng Chánh đường, Hữu Phương đường (đời Minh Mạng) hay Kiền Đông đường (Thiệu Trị, Tự Đức). Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) Dưỡng Chánh đường trong Tử Cấm thành xây xong, vua cho các Hoàng tử Miên Thẩm (sinh 1819), Miên Trinh (sinh 1820), Miên Thần (sinh 1817), Miên Bảo (sinh 1820) dọn ra ở đấy để học tập. Lớn hơn một chút, chừng 11,12 tuổi nhưng chưa đến tuổi xuất các, các hoàng tử lại có nhà ở và nhà học khác bên ngoài Đại Nội, chẳng hạn , đời Minh Mạng có nhà Quảng Phúc đường sau lưng chùa Giác Hoàng (Tam Tòa ngày nay).
Trông coi tổng quát việc giáo dục các hoàng tử và hoàng thân là một Sư bảo,chọn trong các đại thần hoặc hoàng thân lớn tuổi  có văn học và đức hạnh cao. Chức Sư bảo cũng tương tự như chức Hiệu trưởng của một trường, chỉ khác đây là trường dạy…con vua.Trực tiếp giảng dạy các có các chức Tán thiện, Bạn độc, Giảng tập, Chánh tự. Thầy dạy học mang chức danh khác nhau là vì các quan được chọn làm thầy giáo có phẩm trật cao thấp khác nhau, vì mỗi ông phụ trách một trình độ cao thấp khác nhau. Ví dụ, năm Minh Mạng thứ 4 (1823), vua đã chọn  các quan sau đây sung vào ban giảng huấn các hoàng tử và hoàng thân nhỏ tuổi: Cần chánh điện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân (chánh nhất phẩm,1/1) sung làm Sư bảo; Tham hiệp Nguyễn Văn Sĩ (chánh tứ phẩm,4/1) và Lang trung Bùi Tăng Huy (4/1) sung làm Tán thiện; Tri huyện Hoàng Văn Đáng (tòng lục phẩm,6/2), Biên tu Doãn Văn Xuân (chánh thất phẩm,7/1) và Biên tu Trương Đăng Quế (7/1), Kiểm thảo Đoàn Nguyên (tòng thất phẩm,7/2) đều cho làm Bạn độc. Vua nào cũng chú trọng việc giáo dục con em, nhưng đứng đầu trong việc này hẳn là vua Minh Mạng.
Về chương trình học thì mới vỡ lòng cho học sách Khai tâm bảo giám và sách Tiểu học; đến tuổi thiếu niên bắt đầu học Tứ thư, Ngũ kinh và các sách sử. Cũng như các học sinh ở ngoài, các hoàng tử cũng  phải học thuộc lòng các sách, tập viết, tập làm các thể văn. Đến thập niên 1910, khi cái học mới đã phổ biến vậy mà Hoàng tử Vĩnh Thụy còn phải “Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm qua loa, ông thầy đến giảng một đoạn của sách Luận ngữ, bắt tôi học và đọc lại.” (Sđd., tr.27) huống hồ là thời nho học thịnh hành.Với các hoàng tử 10 tuổi trở xuống thì có thể phái thầy Chính tự đến phủ dạy hàng ngày nhưng đến tuổi học kinh, sử thì phải đến lớp, ngày hai buổi sáng, chiều.  Từ 15 tuổi trở lên, cứ 10 ngày một lần, các hoàng tử, hoàng thân được cho đi tập cưỡi ngựa, bắn cung, bắn súng.
Các hoàng tử và hoàng thân (nhỏ tuổi) dĩ nhiên không phải sát hạch học lực như nho sinh đời thường. Chính vua là người thẩm tra và thẩm định học vấn của con và em bằng khẩu vấn hay bút vấn . Học trò  giỏi thì thầy được khen thưởng, học trở dở thầy bị quở phạt, giáng cấp.  Được chọn dạy các hoàng tử hoàng thân quả là một vinh dự nhưng đồng thời cũng là một khổ nạn nếu thầy gặp những ông hoàng ham chơi hơn ham học, lại ngỗ nghịch, khó dạy.
Liệt truyện (tập II, tr.66) kể chuyện ông hoàng thứ 10 tên Quân, con vua Gia Long và bà Đức Phi họ Lê, được phong tước Quảng Uy Công, mất khi mới 21 tuổi. “Ông lúc còn trẻ tuổi thích chơi đùa và sấc láo, kiêu ngạo.” lại gặp quan giáo đạo là Ngô Đình Giới là một vị thầy nghiêm khắc (cũng là thầy của vua Minh Mạng), nên ghét thầm trong bụng.  Một hôm ông sai người hầu bắt một con nhái, trói giữa sân rồi lấy roi đánh, vừa đánh vừa nói “mày chớ khinh ta”. Thầy Giới nhìn biết mà không dám làm gì, không bắt bẻ được. Quả thật là một đòn trả thù bằng cách chơi chữ Huế rặt. Người Huế vốn phát âm không phân biệt âm nh và gi nên nhái và giái như nhau, mà giới cũng đọc trại là giái (thế giới =thế giái)! Chỉ trong bối cảnh tiếng Huế thì mới hiểu giới=giái=nhái, là một. Cũng may cho Thầy Giới, ông hoàng này không làm vua. Biết Hoàng tử Quân cứng đầu nên khi vừa kế vị, vua Minh Mạng đã cử Trần Đại Nghĩa làm Giáo đạo, đặc biệt ban cho quan Giáo đạo một cây roi mây và bảo: “Em nhỏ của trẫm sinh ở chốn  thâm cung, không dạy bảo không thể  trở thành người đức hạnh được. Khanh hôm nay dạy bảo, có lỗi cứ đánh chớ để thành ngạo mạn và lười biếng” (Thế phả, tr.259). Nói thế chứ chưa thấy sử ghi ông hoàng tử nào bị đánh roi cả! Và chắc không có thầy nào dám đánh, lỡ sau này ông hoàng được lên ngai vàng thì e thầy cũng khó an tâm mà sống!
 2. Quyền lợi và nghĩa vụ
Đời Gia Long (1802-1819) thì hoàng tử đến 15 tuổi (ta), Bộ Lễ theo lệ lập danh sách tâu vua xin phong tước Công, nhưng đến đời Minh Mạng (1820-1840) thì đổi khác.  Năm 1829, vua dụ rằng “từ đây về sau, phàm các Hoàng tử đến năm 15 tuổi mà bộ Lễ tâu xin phong tước, đợi ta thân xét hạch xem  Hoàng tử ấy  có quả là đức hạnh tuổi tác  đều tăng tiến, ngày càng tôn kính đạo nghĩa , thì lập tức cho làm lễ tấn phong tước Công.  Nếu Hoàng tử ấy chưa có đức nghiệp sáng tỏ thì hãy đình phong một lần, đợi sau 5 năm lại làm sớ xin, nêu thành mệnh lệnh.” (Hội điển I, tr.180). Tuân thủ lệnh này, năm 1846, nhân dịp Tứ tuần đại khánh (mừng sinh nhật vua 40 tuổi), vua Thiệu Trị (1841-1847) “…sai triệu các hoàng tử, hoàng đệ chưa được phong tước là 10 người đến trước sân hỏi, mà có 7 người ứng chế được, đủ biết đức một ngày một mới, tuổi học một tuổi một hay. Vậy hoàng tử Hồng Y cho tấn phong Kiến Thụy Công, Hoàng tử Hồng Hưu cho tấn phong làm Gia Hưng Công, Hoàng tử Hồng Phò cho tấn phong làm Thái Quốc Công, Hoàng đệ Miên Tẩu cho tấn phong làm Phong Quốc Công, Hoàng tử Hồng Tố cho tấn phong làm Hoằng Trị Quận Công, Hoàng đệ Miên Tăng cho tấn phong làm Hải Ninh Quận Công, Hoàng đệ Miên Lâm cho tấn phong làm Hoài Đức Quận Công, chuẩn cho bộ Lễ tra lệ thi hành. Còn những Hoàng đệ không ứng chế được  như Miên Sạ, Miên Ngộ, học thức không thông, thơ mất niêm luật, đều cho truyền chỉ thân sức [giúp sửa chữa], riêng Hoàng đệ Miên Thái, tuổi đã nhiều lại chẳng biết tu tỉnh, chỉ quen chơi bời, chẳng tập lễ độ, chẳng thích thi thư, chữ viết không thành, văn lại phạm húy, thói cũ không chừa, trái với phép nhà , vậy phạt Miên Thái 2 năm mất lương để tỏ khuyên răn.” (Hội điển I, tr.100-101).
Sách phong Hoàng tử là một  nghi lễ long trọng, được ghi rõ trong Hội điển.
Hoàng tử, hoàng thân và con cháu đều được hưởng lương theo qui định. Mức lương nhiều ít tùy  theo tuổi tác và tước vị được phong. Tuổi lớn và tước lớn thì bỗng lộc phải nhiều hơn. Mặt khác, mức lương bổng cũng thay đổi ít nhiều tùy tình trạng ngân sách của mỗi triều đại.
Khi tới tuổi xuất các, hoàng tử được cấp phủ đệ do Bộ Công xây dựng. Hoàng tử cũng có thể xin lãnh tiển để tự xây theo ý mình nhưng phải tuân thủ qui cách vua đã định.Tùy tước vị cao thấp mà một phủ có nhiều hay ít đội thuộc binh để  canh gác và sai phái. Cũng tùy tước vị cao thấp mà phủ có nhiều hay ít  quan viên phục vụ, ví dụ, phủ Thân vương (hoàng thân tước vương) có đến 18 người, nhưng phủ  Quốc công chỉ có 10 người.  Trưởng sử (4/1) là chức quan cầm đầu việc điều hành tổng quát một phủ, dưới quyền có một Tư vụ (7/1), các Bát, Cửu phầm thư lại và Vị nhập lưu thư lại (thư ký chưa vào ngạch).  Tại các phủ của tước Quận công trở xuống, cầm đầu là một Quản gia.
Đến 15 tuổi thì các hoàng tử, hoàng thân bắt đầu có những nghĩa vụ phải thi hành, đó là việc chầu hầu các bậc trưởng thượng trong nội cung; như dưới triều Minh Mạng, khi bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (thân mẫu vua) còn tại thế, thì các hoàng tử cứ đến ngày 17 mỗi  tháng phải áo mão chỉnh tề, theo thứ tự đã kê trong trong danh sách, đến cung Từ Thọ chầu thỉnh an (thăm hỏi sức khỏe). Cựu hoàng Bảo Đại có ghi lại một buồi chầu thỉnh an như thế, nặng phần nghi lễ hơn là bày tỏ tình càm: “Trong những dịp này [các lễ lạc của triều đình], tôi đến vấn an bà tôi, và theo một nghi thức chặt chẽ là chỉ được quì mà thưa gửi, trong khi bà ngồi sau một bức mành tre, tôi chỉ trông thấy lờ mờ.” (Sđd., tr.28).
Các hoàng tử, hoàng thân, sau khi được phong tước, ngoài việc phải tham dự việc chầu hầu (các phiên đại triều, thường triều), họ còn được vua chỉ định thay mặt vua đứng chánh tế hay bồi tế tại các lễ tế ở  miếu, điện trong Đại Nội; luân phiên theo danh sách đã được chuần y để đi kiểm tra việc thờ tự tại các lăng miếu. Trước khi triều đình cử hành những lễ nghi lớn, thường có lễ kỳ cáo tại các miếu điện, đàn Nam giao và đàn Xã tắc. Làm lễ kỳ cáo tại hai đàn này là đại thần thuộc bá tánh, còn tại các miếu điện phải cử các hoàng tử hay hoàng thân.  Tại Tôn Nhơn Phủ, các chức vụ cầm đầu như Tôn nhơn lệnh, Tả hữu tôn nhơn, Tả hữu tôn chánh, chỉ dành cho các hoàng tử hay hoàng thân tước Công.
Các hoàng tử, hoàng thân nếu không thi hành trách nhiệm giao phó hoặc nghĩa vụ qui định, chắc chắn sẽ bị nghiêm phạt, bởi nếu vua không phạt thì cũng như nuôi mầm mống vô kỹ luật, các quan cũng vì thế mà nhinh nhờn, triều đình sinh ra bát nháo. Năm 1874, sứ thần Pháp đến Huế triều kiến vua Tự Đức. Trấn Tĩnh Quận Công Miên Dần (vai chú của vua) không giữ đúng nghi lễ trong buổi tiếp sứ, bị các quan hặc lỗi (bắt lỗi), bị cắt lương (phạt bổng) 1 năm. Chưa hết, đến mùa Thu năm đó, ông được chỉ định đứng chánh tế Thu hưởng tại Thái miếu, lại vô ý (?) mặc áo trắng mà đi vào cửa bên trái của miếu, phạm và điều cấm kỵ về lễ, bị giáng xuống làm Đình Hầu, mãi đến năm 1878 mới được phục hồi tước Quận Công! Năm 1884, sau khi vua Kiến Phước băng hà, dưới sự đạo diễn của hai quan Phụ chánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, một người em của vua, mới 14 tuổi,được đưa lên ngôi, tức vua Hàm Nghi.  Trước khi cử hành lễ tấn tôn tại điện Thái Hòa, triều đình phải làm lễ tiếp nhận quốc bảo cho người kế vị. Đó là lễ tiếp nhận 4 vật báu của triều đại, là ấn ngọc truyền quốc, long bào, hốt ngọc và tên mới trong kim sách (ngự danh).  Hoàng thân Kỳ Phong Quận Công Nguyễn Phúc Hồng Đình (em vua Tự Đức, con thứ 23 của vua Thiệu Trị) vì lười nên vắng mặt. Với lỗi này, ông bị lột hết tước phong, đổi sang họ mẹ, làm dân thường. Ông mất vào năm đó (1884), được gia ân phục tước Phong Hương Hầu, nghĩa là từ tước công giáng xuống tước hầu.  Mãi đến đời Đồng Khánh mới được truy phục tước Kỳ Phong Quận Công (Thế phả, tr.357).
Trong sử, người ta thường bắt gặp chức Phụ chánh thân thần. Danh xưng này chỉ xuất hiện và dành cho một hoàng thân hay một vị trong Tôn thất có chức phận lớn, làm Phụ chánh khi vua còn ở tuổi vị thành niên.  Năm 1889, Hoàng tử Bửu Lân mới 10 tuổi được đưa lên làm vua, tức vua Thành Thái. Hoài Đức Quận Công Miên Lâm cùng các ông Nguyễn Trọng Hiệp và Trương Quang Đản được cử làm Phụ chánh. Quận công Miên Lâm được gọi là Phụ chánh thân thần, vì ông là người hoàng tộc. Tương tự, vua Bảo Đại lên ngôi năm 1926, khi mới 13 tuổi, lại còn phải xa nhà, du học ở Pháp. Một Hội đồng Phụ chánh được thành lập, gồm thượng thư 6 bộ và đại diện Tôn Nhơn Phủ, mà người cầm đầu hội đồng là quan Phụ chánh thân thần Tôn Thất Hân mà ở Huế hồi đó, người ta quen gọi vắn tắt là “Cụ Thân thần”.

3.Hoàng tử lập phủ thiếp
Vợ chánh của hoàng tử gọi là phủ thiếp. Các vợ bé khác (không hạn chế) gọi là dắng. Việc hoàng tử cưới vợ gọi là lập phủ thiếp và vua chỉ chánh thức chu toàn việc này, còn việc cưới các vợ bé khác thì hoàng tử tự lo lấy.
Trong khi việc kén phò mã được qui định cặn kẽ cách chọn lựa  thì việc vua chọn dâu, không rõ theo cách nào (bắt các quan lớn kê khai con gái tới tuổi cập kê? Hay chọn lựa qua mai mối?
Hoàng tử phả (sách ghi chép tiều sử các hoàng tử) có ghi nhiều mẫu chuyện, qua đó có thể thấy được một trong những con đường đưa hoàng tử tới hôn nhân.
“Vào một buổi chiều. vua Minh Mạng đi dạo, có các Hoàng tử và các quan văn võ đi chầu.Nhân lúc vui vẻ, vua hái lê, bỏ vào trong tay áo, rồi đem mời Lê Văn Đức. Còn các vị quan khác thì vua cho phép tự hái lấy mà dung. . . .Khi ăn xong, vua nói với các quan : “Các Hoàng tử đã nhờ các thầy dạy bảo, nay ta cũng nhờ các thầy  định liệu lương duyên cho chúng nó. Thầy nào có con gái xứng đôi thì cho phép chọn một Hoàng tử.”
Trương Đăng Quế tâu:
-Lá ngọc cây vàng, nhành nào cũng tươi  cũng đẹp, còn con của anh em chúng tôi như chim ở giữa rừng, biết đậu vào có được xứng chăng?
-Chim giữa rừng có nhiều hạng, như chim Phượng hoàng, há chẳng quý sao? Thứ chim ấy chọn cấy mới đậu. Con của thầy bao nhiêu tuổi?
-Tâu, con chúng tôi 16 tuổi.
-Hiểu biết học trò thì không còn ai bằng thầy.Vậy thầy có thương được trò nào chăng?
-Tâu, ông Hoàng Mười (Tùng Thiện Vương), như được nhờ ơn trên thì thần rất toại nguyện.
-Vì sao thầy lựa Hoàng Mười?
-Tâu, các Hoàng tử đều có tài có đức, duy ông Hoàng Mười  thì tài đức ngang nhau, con cháu nhờ được dài ngày, thần đã già, chỉ trông mong con cháu.
-Thế thì gia thất của trò ta nhờ thầy.
(Trích dẫn lại của Nguyễn Phúc Bữu Diên & Phạm Thị Hoàng Oanh, Quê Hương Hoài Niệm, 1999, tr.137-138)
Điều có thể thấy rõ là việc công chúa lấy chồng phải qua 6 lễ (lục lễ) nhưng hoàng tử cưới vợ thì  chỉ cần qua 3 lễ mà thôi.
-Trước hết là lệnh vua truyền chọn dâu. Vua lựa hai đại thần, một văn một võ, vợ chồng song toàn, làm chánh phó sứ, lãnh cờ tiết (tượng trưng uy quyền của vua), đến nhà gái, truyền lệnh cho cha mẹ cô gái biết. Ngày sứ giả đến, nhà gái phải bày hương án ở giữa nhà, quay về hướng nam, mặc triều phục đợi đón sứ giả. Khi vào nhà, chánh sứ đứng bên trái hương án, phó sứ bên phải, cha cô gái quì trước hương án nghe lệnh.  Chánh sứ truyền rằng: vâng lệnh vua, bảo cho biết sẽ cưới Thị (tên) làm vợ Hoàng tử (tên), đến ngày đó, phải đến tiện điện (nơi vua ngư) nghe lệnh. Nghe xong, cha cô gái lạy 5 lạy, rồi khoản đãi sứ giả. Xong việc, chánh phó sứ mang cờ tiết về nộp, phục mệnh. Đúng ngày hẹn, cha mẹ cô dâu mặc triều phục, phẩm phục, vào hoàng cung; chồng thì đến tiện điện lạy 5 lạy nhận lệnh, còn vợ thì đến cung Khôn Đức làm lễ hoàng hậu. Sau đó, Khâm Thiên Giám lo chọn ngày lành tháng tốt tâu vua để làm lễ hỏi và lễ cưới.
-Bước thứ hai là lễ hỏi. Lễ vật trong lễ hỏi gồm có: vàng 2 nén, bạc 4 nén, gấm 2 tấm, lụa màu 6 tấm, lụa tốt 10 tấm, vải tốt 20 tấm, xuyến vàng 1 đôi, hoa tai vàng  1 đôi, trâm vàng 1 bộ, chuổi hạt châu 1 đôi, rượu 2 hũ, trầu cau 1 mâm, trâu 1 con, heo 1 con. Tất cả lễ vật này đều được liệt kê trên một tờ thiếp màu đỏ, bỏ vào  trắp sơn son. Chiều hôm trước ngày lễ hỏi, Bộ Lễ tổ chức phiên thường triều tại điện Cần Chánh cho hai quan chánh phó sứ lạy nhận lệnh vua (bái mạng) , lãnh cờ ngọc tiết và lễ vật để đi làm lễ hỏi vào hôm sau.   Đoàn nhà trai xuất phát từ Đại Nội, lần này có thêm các mạng quan (vợ quan nhỏ) và mạng phụ (vợ quan lớn) đi theo và quân lính khiên mang lễ vật.  Nhà gái cũng bày hương án như trước và khăn áo sẵn sàng, đón nhà trai. Chánh sứ cầm cờ ngọc tiết, phó sứ bưng trắp hồng thiếp, đi trước, kế đến là các món lễ vật. Cờ ngọc tiết, trắp hồng thiếp, và các thứ vàng bạc, gấm lụa được để trên án. Các món khác để ở bàn phụ, các thứ cồng kềnh để ở ngoài sân. Cuộc lễ lần này do quan Bộ Lễ điều khiển. Cha cô dâu quì trước án, làm lễ tiếp nhận lễ vật vua ban, lạy 5 lạy, là xong. Sau đó, chồng lo tiếp các quan, vợ lo tiếp các mạng phụ và mạng quan. Xong tiệc, chánh phó sứ mang cờ ngọc tiết vể nộp, lạy 5 lạy  phục mệnh.
-Bước thứ ba, là lễ cưới.  Lễ vật gồm có; vàng 4 nén, bạc 6 nén, hoa tai vàng 4 đôi, trâm vàng 1 bộ, xuyến vàng 1 đôi, gấm 6 tấm, lụa màu  10 tấm, lụa tốt 20 tấm, vải tốt 30 tấm, trâu 1 con, bò 1 con, heo 1 con, trầu cau 1 mâm, rượu 2 hũ. Là vợ của hoàng tử, dâu của vua chứ không phải là một người nữ bình thường nên cô dâu  được vua ban sắc phong và phẩm phục. Sắc phong viết trên giấy vàng, gọi là sách văn, phẩm phục thì có 1 chiếc mũ kim phẩm, áo 1 cặp, xiêm 1 chiếc, hài 1 đôi, lại cấp thêm kiệu 1 chiếc, lọng 1 cái để đón dâu về. Trong đoàn đi đón dâu lần này có thêm ban nhạc và các nữ quan thuộc nội cung đi theo để giúp đỡ và hướng dẫn cô dâu trong nghi lễ. Nghi thức cũng tương tự như lễ hỏi, chỉ khác ở chỗ sau khi người cha lạy 5 lạy tiếp nhận lễ vật xong thì đứng qua một bên. Một nữ quan quì nhận sách văn do phó sứ trao rồi cùng các nữ quan khác mang sách văn và  các trắp phẩm phục  vào nhà trong, nơi mẹ cô dâu và cô dâu đã sẵn sàng nghênh đón.  Sách văn được đễ trên án bày sẵn. Các nữ quan giúp cô dâu thay phẩm phục vua ban, xong đưa cô dâu ra trước án lạy 5 lạy, rồi quỳ nghe tuyên đọc sách văn. Xong lạy tạ 5 lạy. Sau đó, nữ quan mời cô dâu ngồi lên sập bày sẵn,để cho các mạng phụ và những người nữ khác lảm lễ mừng phủ thiếp 4 lạy. Đến đây thì lễ chánh thức đã xong.  Nhà gái mở tiệc khoản đãi. Sau tiệc, cô dâu được rước về phủ hoàng tử. Hôm sau, cha mẹ cô dâu lại vào hoàng cung lạy tạ ơn vua; ngày nhị hỉ, đến lượt hoàng tử và tân phủ thiếp vào cung làm lễ ra mắt và tạ ơn (Hội điển IVB, tr.244-246).
 4.Lệnh cấm và thưởng phạt
Đã là hoàng tử dĩ nhiên phải có cuộc sống sướng hơn thường dân, nghĩa là không phải bận tâm kiếm sống vì đã có lương bổng nhà nước đài thọ, có phủ đệ to lớn, có người hầu hạ, mũ cao áo dài, ra vào võng lọng. Tuy nhiên không phài cứ là hoàng tử thì muốn gì được nấy, trái lại, họ cũng phài chịu khép mình vào khuôn khổ theo qui định áp dụng cho đẳng cấp và cũng chịu sự thưởng phạt như bên quan lại.  Vừa mới lên ngôi  (1820) thì gặp ngay việc Diên Khánh Công Nguyễn Phúc Tấn (em ruột vua Minh Mạng) tự tiện đánh roi Cai đội quân Thị trung là Lê Văn Hương. Việc được tâu lên khi quanh vua Minh Mạng có mặt các hoàng thân. Vua bảo Diên Khánh Công: “Hương kia cũng là phẩm quan của triều đình , có tội nên tâu lên, sao lại tự lấy roi đánh người ta?Vả lại, phép của tiên đế [Gia Long] lập ra là của chung của thiên hạ, chứ có phải riêng cùa anh em ta đâu! Em không thấy Tiên đế thiết trách Định Viễn Công Bính à? Bấy giờ Định Viễn Công có lỗi nhỏ,mà anh vì Bính hai ba lần xin tha, Tiên đế vẫn không tha. Như thế là vì nghĩ rằng các hoàng thân sinh trưởng ở chỗ giàu sang, cậy mình được yêu thương đặc biệt, nên coi nhẹ mà phạm hiến chương [pháp luật], cho nên không thể không nghiêm ngặt để răn người sau. Nay anh lấy lòng Tiên đế làm lòng mình, mà yêu em, em cũng nên lấy lòng anh làm lòng mình mà yêu anh, cùng nhau cẩn thận giữ phép sẵn để giữ tiếng lành mãi không cùng. Chớ nên lại làm thế nữa.” (Thực lục II, tr.58). Mặc dầu Diên Khánh Công cúi đầu nhận lỗi nhưng vua vẫn phải xin các đại thần tha thứ cho lần đầu, nếu tái phạm sẽ nghiêm trị. Qua năm Minh Mạng thứ 6 (1825), ông hoàng này lại liên tiếp phạm hai lỗi lầm nữa. Vụ thứ nhất là vì việc riêng mà bắt giam một người dân phủ Thửa Thiên và người làm trong phủ. Vua trách mắng: “Dân là gốc nước, dân không yêu mến thì ngươi có thể hưởng giàu sang này được mãi không?Ngươi đã không cùng chia lo với ta lại làm thêm lo cho ta thì lòng ngươi có yên không?” (Sđd., tr.445), riêng Trưởng sử  bị phạt đánh 100 trượng, cách chức làm lính  về tội không can gián. Vụ thứ hai là sai lính (thuộc binh) vào Bình Định bắt con hát, lại bắt càn cả thường dân. Khi nội vụ được địa phương tâu lên, thấy em thói xấu không chừa, vua  cảm thấy “thẹn toát mồ hôi”. Lập tức ra lệnh phạt Định Viễn Công một năm bổng (cắt lương), giải tên thuộc binh đến địa phương phạm tội, chém đầu; 4 tòng phạm bị sung quân, đóng ở vùng núi Quảng Ngãi.
Ngay từ năm Gia Long thứ 15 (1816) đã có lệnh cấm các hoàng tử và hoàng tôn không được giao du với quan lại văn võ. Qua năm Minh Mạng thứ 17 (1836) qui định đi vào chi tiết hơn. Họ không được “can dự vào công việc bên ngoài cũng như đưa văn thư  ra các nha môn ở ngoài. Như thế  thực là để chấm dứt  lối bè cánh riêng, rõ ràng thể chế pháp luật.” (Hội điển I, tr. 138). Các quan trong triều nếu cần liên lạc với các hoàng tử hoàng thân về việc công thì làm công văn thưa bẩm; nếu muốn bẩm bằng miệng thì phải gặp nhau ở công đường hoặc trong lúc triều hội. Tuyệt đối không đến phủ riêng để xin yết kiến. Hoàng tử hoàng thân được phép nuôi 5, 6 tiểu đồng hầu hạ nhưng tuổi phải dưới 14-15 và phải biết rõ gốc gác lý lịch của đứa bé. Khi  tới tuổi thành đinh (18) thì đôn vào sồ lính trong phủ, có sổ sách báo cáo đầy đủ.
Về thưởng, họ có thể được thưởng tập thể theo qui định trong ân chiếu vào các dịp mừng vui lớn của đất nước, chẳng hạn đăng quang, vạn thọ, tấn tôn, tứ ngũ tuần đại khánh, v.v. hoặc thưởng cá nhân nếu có một công trạng nào đó. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), vua ngự giá Bắc tuần để làm lễ nhận sắc phong Nhà Thanh. Thọ Xuân Công Miên Định là con thứ 3 của vua Minh Mạng được cử làm Ngự tiền thân thần.  Ngày làm lễ tuyên phong, sứ Nhà Thanh là Báo Thanh ngổi kiệu vảo thẳng cửa Chu Tước (theo lễ, phài xuống kiệu), quan hầu tiếp không ngăn cản được, Thọ Xuân Công thấy vậy thét mắng, sứ Thanh phải xuống kiệu mà thong thả đi vào nơi làm lễ.  Lễ xong, vua khen, về triều, thưởng Thọ Xuân Công một tấm bài đeo bằng ngọc trắng có khắc 4 chữ đặc dị quyến bưu 特异眷郵 (sủng ái đặc biệt) (Liệt truyện II, tr.85)
Về phạt, tùy tội lỗi phạm phải mà có nhiều mức độ xử phạt khác nhau. Nhẹ thì có phạt bổng (cắt lương), không cho chầu hầu, thu áo mũ và sắc phong, giáng cấp, đổi sang họ mẹ, xóa tên trong tộc phả, thậm chí, tử hình. Trong Kinh thành Huế, có 3 nhà tù dành cho 3 loại đối tượng khác nhau: Trấn phủ là nơi giam giữ những tội phạm chờ Bộ Hình xét xử;  Khám đường là nơi giam giữ các tù nhân đã thành án, và  Cấm cố lao là nơi giam giữ những tội phạm trong Hoàng tộc.
Phú Mỹ Quận Công Miên Phú là con thứ 8 của vua Minh Mạng, sinh năm Gia Long thứ 16 (1817). “Lúc còn làm hoàng tử, vốn tính kiêu ngông, thân cận với trẻ hư, thường cho đầy tớ chạy ngựa dẫm chết người. Việc đến tai vua [Minh Mạng]. Vua giận, sai lột mũ áo, cấm không được dự hàng với các hoàng tử, cứ lấy tên mà gọi. Sau biết sợ và hối hận nên được hoàn lại mũ áo và vị hiệu nhưng không cho vào chầu hầu.” (Liệt truyện II, tr.100-101). Mãi đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) mới cho vào chầu hầu, và đến năm Tự Đức thứ 5 (1852) mới được phong làm Phú Mỹ Quận Công. Nhưng rồi chứng nào tật nấy, ông lại mở trường hát xướng, cho cả người ngoại quốc vào xem,bị Ngự sử hạch lỗi, nên phải giáng làm Kỳ Nội Hầu, đến năm Tự Đức thứ 36 (1883) mới cho trở lại tước cũ.
Năm 1871 đời Tự Đức, gặp ngày kỵ (giỗ) chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (Túc Tông Hiếu Minh hoàng đế).  Hoàng trưởng tử Ưng Chân ( con nuôi vua Tự Đức, sau là vua Dục Đức, thân phụ vua Thành Thái)) vào chầu, mặc quần đỏ, bị phạt bổng 6 tháng. Thêm vào đó, mọi thủ tục chuẩn bị để phong cho ông tước Xuân Trường Công đang tiến hành ngon trớn  cũng được lệnh đỉnh hoãn. Chưa hết, Các quan giáo đạo bị giáng chức, thay bằng các quan khác, vì lỗi không biết dạy lễ nghi cho hoàng tử (Thực lục VII, tr. 1273).

Đó là chỉ phạm lỗi thông thường. Dính vào chính trị thì lắm khi thê thảm.
An Phong Quận Vương Hồng Bảo là con đầu của vua Thiệu Trị, anh vua Tự Đức, nhưng vì con bà vợ thứ (Quí nhân Đinh Thị Hạnh), lại không chăm học, ham chơi nên không được truyền ngôi. Năm 1851, ông bị bắt trong một âm mưu trốn ra nước ngoài nhưng vua Tự Đức nghĩ tình anh em, bỏ qua. Năm 1853, ông lại bị bắt lần nữa trong một cáo giác phản nghịch, bị triều đình kết tội chết. Ông chết một cách mờ ám trong ngục , ông và các con đểu phải đổi sang họ mẹ. Mãi đến triều Thành Thái (1889-1907) trường hợp Hồng Bảo mới được xét lại và vua cho khai phục tước hiệu An Phong Công. Đến đời Khải Định (1816-1825), được truy phong An Phong Quận Vương.
Lại một trường hợp khác: Tuy Lý Vương Miên Trinh là chú của vua Tự Đức, ông nồi tiếng về hai phương diện là hiếu với mẹ và hay thơ, có biệt danh là Ông Hoàng Hiếu và Ông         Hoàng thơ, vua Tự Đức rất kính nễ. Ông được phong làm Tuy Lý Quận vương vào dịp ngũ tuần đại khánh của vua (1878). Trước khi băng hà (1883), vua để di chiếu, dặn dò ông và Thọ Xuân Vương Miên Định “…phàm thấy việc nhà nước có điều gì không phải, nên nói hết để sửa chữa…” (Thực lục VIII,tr.574) nhưng xem ra hai quan Phụ chánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không coi hai Hoàng thân làm trọng; ngược lại, hai Hoàng thân sợ hai Phụ chánh thì có. Ba ngày sau lễ đăng quang dang dở, vua Dục Đức bị hai Phụ chánh âm mưu truất phế, giáng làm Thụy Quốc Công, rồi bị giam và chết đói trong ngục sau đó. Em út của vua là Lãng Quốc Công Hồng Dật được đưa lên ngai vàng, tức vua Hiệp Hòa. Vua phong ông làm Tuy Lý Vương. Ỷ vào công tôn phù,hai Phụ chánh uy quyền ngày càng lớn, hành vi càng lộng, ai cũng sợ. Vua Hiệp Hòa bề ngoài tỏ ra tin dùng và trọng vọng, tưởng thưởng lớn,  nhưng bên trong âm thầm tìm mọi cách để triệt hạ quyền lực của hai ông này, trong đó có việc liên kết với Pháp. Tuy Lý Vương cùng hai con là Hồng Sâm (Tham biện Nội Các) và Hồng Tu (tước Huyện Công) cùng Tham tri Bộ Lại Hồng Phì (con của Tùng Thiện Vương) là những người cùng chí hướng, được vua tín cẩn giao việc chuẩn bị nhưng âm mưu bị hai Phụ chánh khám phá, bất ngờ tổ chức đảo chánh, lật ngược thế cờ. Vua Hiệp Hòa bị truất phế và bức tử, Hoàng tử Dưỡng Thiện (Nguyễn Phúc Ưng Hổ, con nuôi thứ 3 của vua Tự Đức) mới 15 tuổi được đưa lên ngôi, tức vua Kiến Phước. Khi Kinh thành có biến, Tuy Lý Vương cùng các con biết nguy cơ,  liền chạy về Thuận An , nương nhờ vào sự che chở của thuyền trưởng tàu Vipère. Tham tri Hồng Phì đi công tác ở Bắc kỳ, về đến Quảng Trị, nghe tin, biết không ổn nên cũng tìm về  một chỗ với Tuy Lý Vương. Liên can có Hoằng Hóa Công Miên Triện, Hải Ninh Quận Công Miên Tằng, cũng vội vã đem gia đình về Thuận An nương náu này cầu an nhưng sau đó Pháp đều giao trả cho triều đình Huế theo lời yêu cầu của hai ông Phụ chánh. Ba công tử Hồng Phì, Hồng Sâm, Hồng Tu phải đổi sang họ mẹ, chịu án tử hình. Tuy Lý Vương bị giáng làm Huyện Công, an trí ở Quảng Ngãi; Hoằng Hóa Công Miên Triện bị giáng làm Hương Công, an trí ớ Phú Yên; Hải Ninh Quận Công Miên Tằng bị giáng làm Kỳ Ngoại Hầu, an trí ở Bình Định. Mười ba người con trai khác và 3 cháu trai của Tuy Lý Vương, cùng 3 con trai của Hải Ninh Quận Công đều bị giáng làm Tôn Thất, và chịu số phận lưu đày cùng cha. Mãi đến sau năm 1885. khi các ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không còn nắm quyền lực nữa, các Vương và con cháu mới được vua Đồng Khánh  đưa trở về Huế và dần dần được khai phục địa vị cũ.
Ai bảo “sướng như ông Hoàng?”

Võ Hương An
(Theo Nhớ Huế hải ngoại)

 ***

(1)Đế hệ thi là bài thơ 4 câu 20 chữ vua Minh Mạng ban cho dòng con cháu của vua:
Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quí Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thọ Quốc Gia Xương
Cứ mỗi đời theo thứ tự, lấy một chữ làm chữ lót. Ví dụ, bắt đầu từ vua Thiệu Trị là Miên Tông, kế đến vua Tự Đức là Hồng Nhậm, v.v.

Tài liệu tham khảo:
Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, USA, 1990
Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Thuận Hóa, 1995
Nguyễn Phúc Bửu Diên & Phạm Thị Hoàng Oanh, Quê hương hoài niệm II, San Jose,1999,
Nội Các,Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, bản dịch tiếng Việt của Viện Sử Học, do Nxb Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2005, gồm 8 tập.
Quốc Sử Quán,Đại Nam Liệt Truyện, bản dịch tiếng Việt của Viện Sử Học, do Nxb Thuận Hoá , Huế, 1997, Tập I và II.
Quốc Sử Quán,Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử Học, Nhà NXB Giáo Dục, in lần thứ 2, 10 tập

Similar Articles

Một số đặc điểm của văn bia đình làng Thừa Thiên Huế

Một số đặc điểm của văn bia đình làng Thừa Thiên Huế

Văn bia đình làng Phước Tích. Ảnh: NLT 1. Văn bia xuất hiện từ khá sớm,

Một vùng văn hóa Ô Lâu

Một vùng văn hóa Ô Lâu

Ô Lâu là con sông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn nằm ở phía tây

Về xuất xứ bài thơ Nam Khê của Miên Thẩm

Về xuất xứ bài thơ Nam Khê của Miên Thẩm

Chính sử triều Nguyễn chép mộ vua Quang Trung được táng ở vùng Nam sông

Huế phải trở lại vị thế của mình!

Huế phải trở lại vị thế của mình!

Phụ nữ Huế duyên dáng trong tà áo dài. Ảnh: Đăng Tuyên Trong nội dung trả

Tinh tế nón lá bàng rừng

Tinh tế nón lá bàng rừng

Trong những ngày nắng oi ả của mùa hè, chúng tôi ghé thăm ông Võ

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose