Văn hóa Huế | Homepage

Hồi ức của một cậu bé Bắc kỳ về Huế

🕔10.May 2015

Tôi sinh ra bên dòng sông Đà, dưới chân núi Tản Viên, quê hương của Tản Đà. Sau những năm chạy loạn, tản cư vì chiến tranh Việt Pháp, cha tôi tử nạn trong cuộc chiến, mẹ tôi dẫn chúng tôi về Sơn Tây, rồi ra Hà Nội và xuống tàu thủy ở Hải Phòng để vào Huế, đúng lúc hiệp định Genève chia đôi đất nước. Lúc đó anh cả của tôi đang làm việc tại Huế. Mẹ tôi đã bỏ hết tài sản để tránh nạn đấu tố, vào tị nạn ở cùng với gia đình anh cả tôi. Chúng tôi vào Huế vì lý do đó thay vì vào miền Nam như đa số đồng bào miền Bắc tị nạn Cộng sản năm 1954. Lúc đó tôi khoảng 9 tuổi, thơ ngây chưa biết gì. Tôi vẫn nghĩ như thế. Bây giờ nghĩ lại, chính tôi cũng ngạc nhiên, vì thời gian sống ở Huế chỉ chừng 2 năm nhưng đã cho tôi khá nhiều ấn tượng về Huế. Những ấn tượng vui buồn lẫn lộn đó, đã ảnh hưởng khá nhiều vào cuộc đời tôi bây giờ.

Kỷ niệm đầu tiên của tôi về Huế, có lẽ phải nói là miền Trung mới đúng, là lúc mẹ tôi mua cho một tô bún bò trên toa xe lửa từ Đà Nẵng đến Huế. Dù rất đói bụng nhưng tôi đã “tá hỏa tam tinh” khi nhìn tô bún đỏ thắm ớt màu, cọng thêm một trái ớt tươi bằng ngón tay trỏ nữa. Tôi cầm đũa ăn thử rồi bật khóc vì cay quá. Đói meo nhưng đành chịu. Mẹ tôi cũng chịu luôn. Thôi đành bỏ phí. (Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy phí thật. Bún bò thiếu ớt thì làm sao ngon được, dại quá).

Những ngày đầu tiên ở Huế thật vui. Lúc đó anh cả tôi được chính phủ cho ở một căn biệt thự lớn lắm, ngay trong vườn bách thảo, vừa làm văn phòng làm việc vừa làm chỗ ở cho gia đình. Căn nhà rộng thênh thang. Nhà ở gần một con kinh, chắc là kinh Mang Cá. Lúc đó đối với tôi cầu Mang Cá cao lắm. Cũng thời gian này tôi được biết đến danh từ “Mụ Liếc”. Tôi chưa được gặp mụ lần nào nhưng mỗi lần đi tới cầu Mang Cá là được nhắc tới mụ Liếc và hình dung ra một bà rất mập mạp. Và tên “Mụ Liếc” được mang ra dọa những đứa ham ăn, coi chừng thành mụ Liếc. Thật là tội nghiệp cho mụ.

Ban ngày ở vườn Bách Thảo cây cao bóng mát, phong cảnh rất đẹp. Sau này, trong ấn tượng của tôi, tôi vẫn ví căn nhà này như căn biệt thự của ông đại úy trong phim “The Sound of Music” và kinh Mang Cá giống như con sông bên cạnh căn biệt thự xinh đẹp đó. Tuy nhiên lúc đêm xuống thì hơi sợ, vì cả vườn bách thảo rộng lớn như vậy, mà chỉ có một căn nhà đó. Tình hình chính trị lúc đó cũng không ổn lắm vì các phe chính trị đang gờm nhau. Các ông Công Dân Vụ, (giống như Nhân Dân Tự Vệ lúc sau này) hình như cũng ỷ vào thế lực của thủ tướng Diệm nên rất lộng hành. Tối đến, các ông giả dạng kẻ gian, vào vườn Bách Thảo cưa trộm cây quý. Anh cả tôi có trách nhiệm bảo vệ cây quý, nên nghe tiếng cưa, thì xách đèn ra đuổi trộm. Những người này không những đã không sợ mà còn đe dọa anh tôi, khiến anh tôi phải đóng cửa làm lơ cho yên thân. Ngày hôm sau anh tôi phải đành báo với cấp trên là cây quý bị cưa trộm. Cũng may chỉ vài tháng sau gia đình anh tôi dọn vào khu Tây Lộc và chúng tôi khỏi phải sống thêm những đêm đầy lo âu và hồi hộp. Từ đó căn nhà trở thành trụ sở của Công Dân Vụ, thay vì của Bộ Canh Nông. Trước khi dọn nhà, chúng tôi (anh kế tôi và các cháu con anh cả) được dẫn đi ghi danh học ở trường Xuân Lộc, thuộc khu Tây Lộc, gần cửa Hậu. (Thực ra trường này có cái tên dài lắm. Tôi sẽ trở lại nói về ngôi trường đặc biệt này sau).

Những buổi sáng đi học, từ khu vườn Bách Thảo đến Xuân Lộc thật là vui. Anh em tôi đi bộ qua hồ Tịnh Tâm, qua cầu Mang Cá, dọc theo kinh Mang Cá và xóm làng đến Tây Lộc. Con đường có lẽ đến hơn 2 cây số, tôi không nhớ rõ lắm. Hai bên đường có rất nhiều cây keo và tre trúc. Ngày đầu, anh cả nghỉ một buổi để dẫn chúng tôi đến trường, sau đó thì chúng tôi tự đi. Mỗi lần nghĩ lại hôm đi học đầu tiên tại Huế, tôi lại liên tưởng đến bài văn bất hủ của Thanh Tịnh: “ Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh…” tuy rằng buổi đi học lần đầu ở Huế nắng ấm chan hòa. Sau này, lúc dọn về Tây Lộc, đường đi học gần hơn nhưng kém đi phần thơ mộng rất nhiều.

Tôi nhớ khu Tây Lộc là một khu gia cư tân lập, mới xây cất cho đồng bào miền Bắc vào tỵ nạn năm 1954. Theo tôi, khu này chẳng có gì là Huế cả, dù nằm ngay trong Thành Nội, bên cạnh vườn cam nổi tiếng. Khu này có khoảng 200 căn nhà mới xây, khá chắc chắn, đa số dân trong khu này người đạo Thiên Chúa. Gia đình anh cả tôi được cấp một căn, dù chúng tôi không phải đạo Chúa, có lẽ một phần vì sự quen biết của anh tôi và một phần khác là vì chính phủ muốn lấy lại căn nhà trong vườn Bách Thảo cho Công Dân Vụ.

Kỷ niệm không mấy vui của tôi là sáng nào tôi cũng bị thức dậy thật sớm, khoảng 5 giờ sáng, vì tiếng đọc kinh rất lớn của hàng xóm. Tín đồ đạo Kitô có thói quen dậy sớm đọc kinh cả nhà. Riết rồi tôi cũng quen và thuộc lòng các Kinh Lạy Cha, Kinh Tạ Ơn… một cách thuần thục như một con chiên ngoan đạo.

Trường Xuân Lộc là một trường mới lập, một thí điểm giáo dục cộng đồng, có cái tên rất dài: Trường Tiểu học Cộng đồng Dẫn đạo Xuân Lộc. Đi học từ xóm Tây Lộc đến trường Xuân Lộc không xa, nhưng phải qua các bờ ruộng thay vì đi trên đường lớn thì xa hơn. Ngày nắng ráo thì không sao, tụi tôi chân sáo nhảy từ bờ ruộng này qua bờ kia, từ mô đất này qua mô đất khác với tiếng chim hót líu lo trên cây, với vài con cò bay trên rặng tre trông rất đẹp mắt. Ngày mưa thì là cả một vấn đề vì bờ ruộng trơn trượt. Huế mà mưa thì mưa thúi đất, mưa không ngừng. Mưa xuống, gió lạnh, chim cò đi lánh nạn đâu hết chỉ còn những ổ rắn nước. Ruộng nào cũng có vài ổ. Lúc đầu tôi sợ ê người, tê cẳng luôn. Sau rồi cũng quen, đi học phải mang theo một cây gậy, vừa chống cho đỡ té, vừa để đuổi rắn (không biết có phải vì vậy mà sau này tôi đỡ sợ rắn không ?)

Trở lại ngôi trường Xuân Lộc rất đặc biệt của Huế; Năm đó tôi học lớp Nhì, anh kế tôi học lớp Nhất và khóa đó là khóa khai giảng đầu tiên của trường. Lúc khai giảng, trường vẫn chưa xong hoàn toàn, ngoại trừ các lớp học. Trường này là một loại trường cộng đồng, nghĩa là ngoài việc học chữ, trường còn nhằm dạy cho học sinh các loại nghề nghiệp thực dụng, các sinh hoạt trong cộng đồng, tự lập canh tác đủ cả. Đây là một hệ thống giáo dục mới mà chính phủ Thủ tướng Diệm muốn phổ biến theo mô hình giáo dục của Phi Luật Tân. Năm đó thầy Đính dạy lớp Nhất, còn cô giáo của tôi là cô Quỳnh. Thầy Đính, cô Quỳnh và các thầy cô khác rất tự hào vì đã được gởi đi du học Phi Luật Tân trước khi được giao cho việc tổ chức trường Xuân Lộc. Tôi không biết bây giờ cô Quỳnh còn sống hay không, nếu còn, chắc cũng ngoài 80 tuổi rồi. Tôi nghe nói thầy Đính sau này lên làm hiệu trưởng và đã mất rồi. Ngoài các lớp học bình thường như các trường khác, trường Xuân Lộc còn có vườn trồng hoa, trồng rau, chuồng nuôi heo, chuồng nuôi dê, nuôi bò, có xưởng mộc, nhà bếp để dạy gia chánh, vân vân… Học trò chia ra từng nhóm, sau giờ học chữ, để trồng trọt, chăn nuôi. Lúc có rau, có hoa, tụi tôi được chở xuống các chợ bán cho khách hàng.

Trường Xuân Lộc được xây đúng vào chỗ thành Dục Đức. Theo sử sách, Dục Đức là một ông hoàng tử xấu số, chưa được lên ngôi đã bị hạ ngục. Vua Tự Đức không có con, nên nhận 3 người cháu làm con nuôi. Dục Đức là con trưởng nhưng tính tình phóng đãng ham chơi. Vua Tự Đức có ý định phế bỏ, lập người con thứ 3 lên làm vua sau này. Tuy nhiên vì tình hình chiến sự với Pháp lúc đó nước nhà cần một vị vua trưởng thành hơn. Vì hoàng tử thứ ba còn quá nhỏ nên vua Tự Đức lúc sắp băng hà đã để lại di chiếu lập hoàng tử Dục Đức lên làm vua. Hai quan đại thần lúc đó là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường không chịu, bèn thay đổi di chúc, bỏ ngục hoàng tử Dục Đức cho chết đói và lập em vua Tự Đức lên làm vua, tức là vua Hiệp Hòa. Hoàng tử Dục Đức bị giam cho chết đói trong thành thành Dục Đức và sau này trường Xuân Lộc được xây ngay trên thành này. Lúc chúng tôi đi học, chung quanh trường còn có bức tường cao, xây bằng đá. Giờ ra chơi, chúng tôi được huy động, tiếp tay với công nhân để phá thành, rồi khuân đá vào một góc. Sau vài tháng trời, bức tường không còn nữa. Con hào chung quanh thành được biến thành hồ nuôi cá phi. Lúc đó chúng tôi hãnh diện và rất khoái chí về việc phá thành, vì vừa được nghịch, vừa được khen làm công tác giỏi. Bây giờ nghĩ lại, tôi hơi buồn vì đã vô tình góp phần nào vào việc phá hoại một di tích lịch sử, một phần lớn vì sự thiển cận của người lớn thủa đó. Thành Dục Đức bây giờ không còn nữa, chỉ còn lại một ngôi trường nhỏ bé vây quanh bởi những hồ nuôi cá phi.

Những ngày đi học ở Huế cũng có những chuyện khá ngộ nghĩnh làm tôi nhớ hoài, dù đã 50 năm trôi qua. Lúc mới vào học, anh em chúng tôi là một trong rất ít những tên Bắc kỳ trong lớp, nên bị mấy trò kia “chiếu cố” chọc ghẹo hoài. Có một trò kia, tôi chẳng nhớ tên là gì nữa, cứ theo tôi, làm bộ thân thiện, hỏi han bằng giọng Huế đặc:

“Rứa anh đã mua đủ sách vở chưa?”

Tôi thật thà trả lời:

“Chắc đủ rồi đó, để tôi hỏi cô giáo đã”

Ngày hôm sau, hắn lại hỏi:

“Rứa hôm nay anh mua đủ sách vở chưa?”

Tôi ầm ừ trả lời cho qua chuyện mà lòng thì rất cảm động vì bạn tốt bụng, lo lắng cho mình. Dần dần hắn hỏi gọn hơn:

“Sáng nay anh đủ vở chưa?”

Tôi ngây thơ, thành thật trả lời:

“Sáng nay có đủ rồi.”

Mỗi lần hắn hỏi vậy là cả bọn lại rũ ra cười khúc khích. Hắn còn quay lại tuyên bố với bạn bè:

“Bay ơi, thằng ni hắn đủ vở rồi.”

Hắn nói xong, phá ra cười, cả lớp lại cười theo. Tôi lấy làm lạ, mua đủ sách vở thì có gì mà đáng cười không biết, chắc mấy trò ni khùng hết rồi.

Chiều về nhà, tôi mang chuyện ra kể cho anh cả tôi. Nghe xong anh cũng phá ra cười, rồi bảo: “Tụi nó nói bậy, chọc phá em đó. Đừng thèm trả lời.”

Mãi về sau tôi mới hiểu tại sao và cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ chuyện ngày xưa và thấy câu “Nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” quả là không sai!

Một kỷ niệm khác cũng khá vui. Có một dạo, lớp tôi được cử nuôi 2 con dê cái. Mỗi chiều chúng tôi phải thay phiên vắt sữa. Có lần thầy giáo cho chúng tôi uống sữa dê vừa vắt ra. Tôi cũng được uống, tối hôm đó tôi bị tiêu chảy suốt đêm, sém phải chở đi nhà thương cứu cấp.

Ngoài những chuyện ngộ nghĩnh, phá phách tương tự như những chuyện tôi vừa kể, những ngày đi học ở Huế thật là êm ả. Chỉ sau vài tháng đi học, tôi bắt chước nói được tiếng Huế, có lẽ tôi nói khá giống vì mẹ tôi đã không hiểu được tôi nói gì, phải nhờ anh tôi “dịch” lại.

Hồi đó tôi rất mê đá cầu, hình như tiếng Huế gọi là đá kiện thì phải, hơn 50 năm qua nên tôi không nhớ rõ lắm. Lúc đó chúng tôi thường dùng hoa “poa-rô”, một loại tỏi Tây, rất thịnh hành ở Huế, để làm kiện, vì không có tiền mua kiện bằng lông gà. Có lúc chúng tôi lại hái hoa vạn thọ làm kiện đá. Tôi nhớ ở Huế có rất nhiều hoa vạn thọ và thược dược. Lúc sau này lưu lạc, lớn lên ở Sàigòn, mỗi lần thấy hoa vạn thọ hay thược dược là tôi lại nhớ Huế.

Ở Tây Lộc chừng nửa năm, mẹ tôi thuê một căn nhà của một nhân viên làm trong tòa án, đằng sau Tam Tòa, gần cửa Thượng Tứ. Mẹ tôi muốn tự túc, để khỏi tùy thuộc vào đồng lương công chức rất giới hạn của anh cả tôi. Sau này mẹ tôi cũng được phép làm thêm một chái nhà sau Tam Tòa, như một nhân viên tại Tòa vậy. Mẹ tôi bắt đầu buôn bán kiếm sống. Mẹ tôi làm một gánh miến gà đi bán rong trong vùng vì lúc đó đã có nhiều người Bắc di cư vào Huế và họ rất nhớ món ăn miền Bắc. Mỗi lần hồi tưởng lại hình ảnh mẹ tôi sáng sớm tinh mơ gánh hàng đi bán, tôi không khỏi rớm lệ và khâm phục mẹ. Từ một người có tài sản, có nhà, có ruộng thẳng cánh cò bay, cả chục người làm trong nhà, mẹ trở thành người bán hàng rong mà không hề than phiền. Mẹ chỉ mong chúng tôi có cơ hội ăn học là vui rồi. Huế có nhiều cái lễ nghi mà tôi cho là rất tức cười. Một người bán hàng rong mà cũng phải mặc áo dài, lại áo dài màu đen. Người Bắc chỉ mặc áo dài lúc lễ lạt, Tết nhất mà thôi và họ rất kỵ màu đen. Lúc đầu, mỗi sáng mặc áo dài đen, quảy gánh trên vai cũng làm mẹ tôi ngượng ngùng, khó chịu không ít. “Thôi, nhập gia tùy tục vậy!” Mẹ vẫn thường tự an ủi.

Dọn ra khu Tam Tòa, chúng tôi đi học phải đi bộ xa hơn, có lẽ hơn 3 cây số. Nghĩ lại, tôi không khỏi ngạc nhiên, sao hồi đó tụi tôi đi bộ giỏi thế. Từ nhà mới này, mỗi ngày đi học, chúng tôi đi ngang qua cửa Ngọ Môn. Có những chiều đi học về, tôi leo lên khẩu đại bác trước Ngọ Môn nằm chơi. Có hôm vì gió mát, tôi ngủ thiếp đi, lúc choàng tỉnh dậy thì trời đã sẩm tối làm mẹ tôi lo lắng, sai anh tôi đi kiếm khắp nơi. Những chiều thứ Bảy, tôi hay đi bộ qua cửa Thượng Tứ, đến bến Thương Bạc, nghe ban quân nhạc thành phố Huế hòa tấu rất hay, rồi có hôm lang thang trên bờ sông Hương, lên tới cầu Bạch Hổ, cũng có khi đi lạc xuống vùng Gia Hội. Thỉnh thoảng tôi theo anh tôi xuống đò qua trường Quốc Học, trên đò có nhiều “chị Đồng Khánh,” áo trắng, tóc thề rất đẹp. Tôi tha hồ ngắm các “chị” mà các “chị” không mắc cỡ vì tôi còn nhỏ nên các chị không để ý.

Những ngày ở Huế của tôi rất ngắn. Sống tại Cố đô được hai năm thì chúng tôi vào Sàigòn, bỏ lại đằng sau sông Hương, Núi Ngự. Trong hai năm trời ngắn ngủi đó, tôi đã ghi nhận nhiều kỷ niệm hơn tôi tưởng. Hình như  “hạt giống Huế” đã có trong tàng thức tôi từ đó.

Không biết có phải tại những lý do tàng ẩn đó hay không mà hai mươi năm sau, tôi đã cảm động sững sờ khi nghe giọng Huế dễ thương của một cô học trò lớp Anh văn của tôi tại trường London School, và đã ngã vào “vòng tay học trò” lúc nào không biết./.

Nguyễn Phục Hưng
(Theo Nhớ Huế)

Similar Articles

Nhớ cá chỉ vàng rim của mạ

Nhớ cá chỉ vàng rim của mạ

Chiều, cơn mưa dông bất chợt, tôi nhớ ngay là phải điện thoại về dặn

Ký ức mùa thi

Ký ức mùa thi

Thấm thoắt mà đã gần 40 năm, kể từ ngày ba chở tôi đi thi

Ký ức mồng Năm

Ký ức mồng Năm

Ở làng mình đúng là sau Tết thì vui nhất là tết mồng 5 coi

Mùi khói vương chái bếp

Mùi khói vương chái bếp

Trên đường đi công tác chiều nay, lúc xe chạy ngang một ngôi làng nhỏ,

Huế trong hoài niệm

Huế trong hoài niệm

Sau ngày giải phóng Huế 26/3/1975, biết bao niềm vui, hạnh phúc ngập tràn đến

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose