Văn hóa Huế | Homepage

Huế – Còn chút gì để nhớ

🕔21.Jun 2015

Cả nhà di chuyển vào Huế trên một chiếc xe GMC nhà binh với niềm vui vì trước đó mẹ tôi hay nhắc đến Huế một cách ngưỡng mộ, nào là Huế đẹp lắm, lớn lắm…mà nhất là có nhiều bà con vì bà ngoại tôi gốc Huế lấy chồng Quảng Nam rồi theo chồng đi nhiều nơi cuối cùng mới trụ lại ở Qui Nhơn.

Tới Huế, căn nhà ba tôi thuê ở trong Thành Nội, đường Đinh Bộ Lĩnh, từ cổng Thượng Tứ đi thẳng vào một đường, thẳng tuốt vô trong nữa là Cầu Kho, Mang Cá.

Nhà này của ông cụ Lê Thiện hai căn kề nhau, bên cạnh cũng một người bạn ba thuê, cách mặt đường một con mương, không có sân. Nhà cụ chủ nhà kế bên, phía sau trong khuôn viên cũng có nhà bác Duệ mẹ chị Nguyệt.

Lúc đầu, chị tôi vẫn còn ở lại Quảng Trị học lớp Đệ Thất trường Nguyễn Hoàng, chờ xin vô trường ở đây được mới vào sau, còn tôi ( suôn sẻ) thì vô học trường Nữ Tiểu Học Đoàn Thị Điểm gần nhà, đi bộ không tới 10 phút!

Nhớ hôm đó mẹ dẫn tôi tới trường, gặp một bà cô già, ốm tên Nê (tên chồng chứ bà tên Tuý Bích, bà này trước đây là cô giáo ở trường tiểu học mẹ tôi học ở Đà Nẵng) dẫn tới lớp Nhì B giao cho một cô hơi mập, người miền Nam, khá vui vẻ mà tôi không còn nhớ tên. Mấy tụi trong lớp chả buồn để ý đến tôi, cứ coi như không có vậy! Tới chiều, thấy cả lớp không học mà đi xuống một phòng khác, ở đây thấy có đồ nhà bếp, rồi thấy tụi nó lục đục làm gì tôi chả nhớ, chỉ biết sau đó cả đám được ăn ragout hay cà ri gì đó. Mới ngày đầu tiên, chưa biết ất giáp gì, tôi thấy lạ quá nên chỉ ăn rón rén, cũng chả dám hỏi ai về chuyện này, mà chả có đứa nào nói chuyện với mình cả. Tan học về kể cho mẹ nghe, mẹ nói lúc sáng cô có biểu đóng tiền ăn vụ này rồi (biết vậy đã ăn nhiều hơn). Thì ra đó là môn gia chánh.

Cái trường này sân bằng xi măng  mà tụi học trò chỉ thấy chơi nhảy dây chứ ít thấy trò gì khác, mà tụi nó nhảy giỏi hơn ở Quảng Trị nhiều, nhảy một lần hai dây: hai đứa hai tay quay hai sợi dây, người nhảy thì chạy vô, nhảy qua nhảy lại cho khéo nếu không dễ bị vướng. Tôi nhảy dây cũng thuộc hàng khá nhưng chưa nhảy kiểu này bao giờ nên không dám tham gia, chỉ chơi chỗ một dây thôi!

Trong lớp tôi chỉ chơi với con nhỏ ngồi cạnh tên Ngọ, hình như là đội trưởng thì phải, nhỏ này bình thường, nghĩa là không có gì đặc biệt xuất sắc cả nhưng vì ngồi kế bên nên là bạn độc nhất của tôi ở đây! Phía trên có hai con nhỏ ốm nhom, cứ rù rì rủ rỉ mình mình ấy ấy với nhau (ở đây học trò xưng hô là mình, ấy chứ không nói tau, mi), ít chơi với ai khác. Nổi nhất là một bạn tên Phương Mai, cao ráo, xinh xắn và có 2 bím tóc dài, con của cô Nê, hình như bạn này học giỏi nhất lớp. Lớp bên cạnh, Nhì A có một con nhỏ điệu tên Hương (điệu vì con nít thường mặc áo len hay nỉ còn nó diện một cái áo manteau dài tới gối, bỏ tay trong túi như người lớn), nghe nói là con của cô giáo lớp đó, tên là cô Khuy. Có lần tôi thấy một ông mặc đồ quân nhân, cổ có hai bông mai màu trắng trông oai lắm, vô trường, nghe tụi học trò nói đó là ba nhỏ Hương, Khuy là tên ông. Còn có một bạn nữa mà tôi không nhớ tên mà chỉ nhớ vì nó là con nhà giàu (hay diện áo quần) chuyên môn “chào cờ” mỗi khi bị gọi trả bài! Những lúc đó tôi cứ nghĩ nếu là mình thì không dám diện như thế đâu, mặc đồ đẹp mà cứ lên bảng là chào cờ như thế thì.. quê quá! Tôi là con ma mới, không nổi không chìm, lửng lơ giữa lớp. Ở đây có điều lạ nữa là không gọi zero hay 1 điểm mà gọi khác (tôi quên mất rồi).

Phía sau trường có đất rộng, mỗi đội có một luống đất để trồng rau! Tôi nhớ có lần đi theo bạn Ngọ về làng mua cây rau con về trồng. Ngọ ta nói rằng mấy đội khác chắc trồng cải thường, đội mình nên mua salad quắn cho lạ, tôi chả biết gì, cứ ừ hữ cho xong! Cả bọn ra đào đào xới xới trồng mấy cây con này xuống cái luống của đội mình rồi tưới mỗi ngày, ngày nào cũng ra săm soi coi nó lên được bao nhiêu rồi. Cũng vui.

Có giờ nữ công nữa, cũng mới thêu mấy mũi căn bản. Tới hồi thì Lục Cá Nguyệt, môn nữ công phải làm tại lớp chứ không đem về nhà làm như mọi khi, khỏi nói, miếng vải của tôi nó tèm lem mồ hôi và mấy đường thêu xấu quá! Kiểu này không xong rồi! Tôi bèn kiếm miếng vải khác ở nhà làm lại bình tĩnh, sạch sẽ tuy không đẹp lắm nhưng cũng hơn cái cũ (chơi ăn gian!).

Rồi cũng quen lớp nhưng tôi vẫn cảm thấy lạc lõng sao sao ấy, không có cảm giác thân mật gì cả. Ghét nhất là lúc tan trường, cứ nghĩ chạy ù về nhà là xong, ai dè bị chận lại, phải xếp hàng, không phải theo lớp mà theo… cái ngã rẽ về nhà! chán thật tôi lúng túng chả biét đứng vô hàng nào, gần nhà chả thấy đứa nào trong lớp cả! Ngọ thì đã ra khỏi trước rồi, tôi cứ đứng đó chờ thấy hàng nào rẽ hướng về nhà thì theo! Giời ạ! nó là cái hàng cuối cùng! Thế là cứ phải về sau trong khi chỉ chạy năm phút là tới nhà! Tức quá, có hôm tôi canh me chạy đại về.

Chị tôi vẫn còn ở Quảgn Trị, thỉnh thoảng đi xe đò về nhà. Mẹ tôi lo đi tới nhà của người bà con để xin cho chị tôi chuyển vào trường Đồng Khánh Thành Nội gần nhà. Mẹ có dắt tôi theo đi tới nhà của bà hiệu trưởng (trong trường), tôi còn nhớ bà này còn khá trẻ tên là Tiểu Bích (là cháu của bà mợ của mẹ) nhìn sang trọng lắm, tóc bới cao (thời đó mấy bà mệnh phụ thường bới tóc kiểu như bà Nhu), nhà có xe hơi đen. Có lẽ chuyện tốt đẹp nên sau đó chị tôi  được vô học trường này.

Lại thấy chị tôi ca cẩm rằng thì là cái môn âm nhạc trường này dạy cao quá rồi, chị theo không kịp, ai đời cái ông thầy già cứ kéo đàn bắt học sinh viết mấy nốt nhạc ra (hình như là thầy Nguyễn Hữu Ba). Hàng ngày có mấy bà chị họ tôi ở phía trong Cầu Kho cũng học trường Đồng Khánh này đi ngang nhà ghé vào rủ chị tôi, hàng xóm có hai chị cũng học cùng trường nên chị tôi có bạn đi cùng, tôi nhớ mấy chị này mặc áo đầm trắng chứ không mặc áo dài, còn tôi chả có bạn nào ở gần hay sao mà tôi chỉ nhớ là mình đi học một mình (thật ra chắc có vì trường gần đó mà!) nhưng chắc tôi chưa kịp quen ai nên tụi nó không rủ rê, còn bạn Ngọ thì ở đâu tôi không nhớ.

Khi chị tôi chưa vào, tôi không đi đâu xa ngoại trừ những lần mẹ tôi dắt theo đi đâu đó, tôi còn phải giữ em chứ đâu có rảnh! Tối tối còn bị mẹ “khảo bài” rất căng thẳng rồi đi ngủ sớm. Bây giờ có chị vào rồi, chị em tôi đi khám phá xung quanh. Sân trước nhà ông cụ chủ nhà có nhiều cây cảnh và hoa hồng, ông cụ này rất khó tánh và không thích con nít, có lẽ ông sợ tụi nó phá cây kiểng của ông (cũng đúng thiệt!), tôi không thấy ai ngoài hai người già. Phía sau nhà ông trồng nhiều thứ nhưng tôi chỉ nhớ có mấy cây chanh chứ không có cây nào tôi thích cả (ví dụ cây trứng cá, cây ổi hay khế…) Có lần ông nói mấy thằng nhóc em tôi phá cây chanh của ông, mẹ tôi phạt tụi nó quỳ, chị tôi cũng bị la và chị hăm he (chỉ tôi nghe thôi) sẽ vặt trụi chanh cho bỏ ghét! Tôi thì chả thích chanh vì ăn đâu có được, tôi thích hoa hồng, muốn có hoa để ép vào vở cho thơm nhưng lúc nào cũng thấy ông cụ nhìn lom lom khiếp lắm! tôi chỉ canh lúc ông cụ đi khỏi, mon men tới gần bụi hoa hồng nhưng phải đành bỏ cái ý đồ vì nó đầy gai! Thôi,ngửi hương thơm cũng được vậy!

Phía trước nhà tôi là một cái hồ khá lớn, lúc đó thấy đầy cây gì mà có hoa màu tím lạt, sau đó chắc hết mùa đông  thì đầy sen, sáng sáng thấy có người chèo ghe nhỏ ra hái hoa. Phía trong nhà tôi, xa hơn là hồ Tịnh Tâm nổi tiếng, nơi ngày trước là chỗ vua tới chơi, người ta nói hạt sen hồ này nấu chè ngon nhất.  Sen ở đây màu trắng chứ không hồng. Xung quanh hồ có chỗ để ngồi ngắm sen, ngắm trăng, khuôn viên rộng rãi nhưng bình thường chẳng có mấy ai. Ven đường có nhiều cây nhãn, khi thấy nó ra trái nhiều tôi thầm tính làm cách nào để hái được đây vì cây cao lắm! Chưa nghĩ ra thì.. một sáng kia nhìn lên cây người ta đã lấy bao bao những chùm trái lại hết! Thì ra hồ và nhãn này có người đấu thầu chứ đâu phải của công.

Gần trường có nhà sách Khánh Quỳnh, rất lớn, bán đủ thứ học sinh cần, chị em tôi thường tới đây liếc mấy cuốn truyện chứ đâu có coi cọp được như ở Quảng Trị. Từ nhà tôi đi thẳng một lèo đường Đinh Bộ Lĩnh là tới cửa Thượng Tứ (chỉ đi được một chiều vô), bên ngoài cửa này là đường Trần Hưng Đạo, phố chính của Huế. Từ nhà tới đường Mai Thúc Loan thì quẹo ra cửa Đông Ba. Tôi nghe nói Thành có tới 11 cửa nhưng tôi chỉ biết hai cửa đó thôi, đi đâu cũng chỉ đi qua hai cửa này (Khi viết bài này tôi xem bản đồ Thành Nội bây giờ thì thấy từ cửa Thượng Tứ vào là đường Đinh Tiên Hoàng chứ không phải đường Manteau , chắc tôi nhớ lộn chăng? Nhưng hóa ra tôi nhớ không sai, năm 1977 chính quyền thành phố cho ông Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua). Nhưng người dân vẫn quen gọi là đường Thượng Tứ (Tôi thường nghe mấy bà mắng ai đó là “con ngựa thượng tứ” có nghĩa là con gái hư nhưng không hiểu vì sao thì ra ngày trước ở cổng thành này có trại ngựa của hoàng gia).

Tôi không nhớ có rạp hát nào gần nhà và cũng không được  xem phim nào trong suốt thời gian ở Huế. Cũng chả có bạn học hay bạn hàng xóm như ở Quảng Trị, chị em tôi chỉ loanh quoanh trong nhà, xa nhất là đi tới cửa Thượng Tứ hay cửa Đông Ba. Lâu lâu mẹ tôi mới dẫn đi ra khỏi hai cái cửa đó tới chợ Đông Ba hay đi thăm bà con bên kia sông. Khi nào ba tôi về thì mới có cái radio để nghe em gái hậu phương hát tặng mấy anh chiến sĩ mấy bản tình ca thắm thiết tình quân dân cá nước! Dạo ấy, Hà Thanh được ái mộ nhất, Phương Dung và Quàng Quanh (Hoàng Oanh) cũng đang lên, tối tối có Em gái Dạ Lan tâm tình với các anh chiến sĩ. Nói chung tôi không có nhiều trò để chơi, chỉ khi nào rảnh chị em tôi bế em qua nhà chị Nguyệt phía sau chơi. Nhà này chỉ có ba người, mẹ chị làm công chức và anh chị tên Trác đi làm vắng nhà nên khá thoải mái. Anh Trác có cây đàn guitar và rất nhiều bản nhạc, nhưng tôi mê nhất là mấy tạp chí Điện ảnh, Màn ảnh.. Mấy tờ này hồi đó chuyên môn đăng tin về ciné, tài tử..từ các báo Pháp, có nhiều bài kể chuyện phim. Khỏi nói, tôi đọc say sưa và mê mẩn mấy cô đào thời đó: Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Sophia Loren, Gina, Claudia Cardinal (không nhớ tên nam tài tử nào cả).  Không có tiền đi xem phim chứ phim nào tôi cũng biết cốt truyện nhờ đọc ở đây! Hồi đó Marylin đang nổi như cồn, tôi cứ nhớ câu mô tả nàng: “với mái tóc bạch kim óng ả, với bộ ngực vĩ đại…” Nhưng tôi thấy Gina đẹp hơn, Sophia Loren thì cái miệng … rộng quá! Bây giờ nhiều khi xem trên HBO có nhiều phim tôi cứ tưởng mình đã xem rồi là vậy.

Thành phố Huế khi ấy có nhiều xe buýt, tôi còn nhớ xe đi ngang nhà là xe Cầu Kho, số 6 ?). Mẹ đi đâu cũng dắt tôi theo, đi tới nhà bà con bên Gia Hội, bên làng… nhà mấy ôn mệ thường có sông gần mé sau… Chợ Đông Ba  tấp nập… Đường phố chính cũng có tên Trần Hưng Đạo như ở Quảng Trị nhưng dĩ nhiên là sầm uất hơn nhiều. Đi xe buýt thì cũng phải đi bộ nhiều, đường có nhiều cây cao mát mẻ, nhà người dân thường có hàng rào bằng chè tàu cắt xén ngay ngắn, không biết bây giờ còn không, nhiều nhà làm nó như một bức bình phong ngay trước sân! Có những con đường lớn, bên lề có những fontain nước máy, có thể dừng lại uống được, tôi rất thích uống nước này, ngọt lắm! Bây giờ có lẽ mấy cái fontain này không còn chứ hồi đó khách bộ hành nhờ nó mà đỡ khát chứ đâu có quán xá tràn lan như bây giờ! À, ở Quảng Trị và Huế không có nước mía!

Khi chị tôi còn ở lại Quảng Trị học, thỉnh thoảng mới đi xe đò về nhà, nhiều khi lâu quá ba tôi về không được thì chị đi tới đơn vị ba đóng để lãnh lương. tôi thích được đi như vậy lắm! (cầu được ước thấy),Lần này không có chị, ba dẫn tôi đi ra cây số 17 để lấy hồ sơ gì đó đem về, ba ở lại còn tôi sẽ về một mình! nghe thấy cũng dễ ợt! cứ lên xe đò, tới bến thì đi xe buýt Cầu Kho số 6 về ngang nhà thì xuống, có gì đâu!

Ra tới nơi, ba biểu đứng bên đường chờ, ba chạy vô trong lấy giấy tờ ra liền. Tôi đứng đó, ngắm ông đi qua bà đi lại (chỗ đó là cái chợ bên đường thì phải), ngắm chán rồi mà chả thấy ba đâu, bắt đầu chột dạ, thiên hạ chắc thấy có con nhỏ ở đâu mà đứng hoài nên cũng ngó tới ngó lui, con nít chỉ chỏ bàn tán, trời bắt đầu nắng gắt, trưa rồi, vừa mệt vừa sợ không biết có chuyện gì mà ba lâu ra quá, nhìn vô xa xa chỉ thấy cổng đầy giây thép gai rào quanh căn cứ. Thế là tôi sụt sùi, mấy bà bán hàng trong chợ chạy lại hỏi thăm làm tôi khóc oà lên, họ dẫn vô chợ cho mát rồi dỗ dành cho bánh ăn. Cuối cùng ba cũng ra.. Dẫn tôi tới chỗ xe đò gởi gắm cho bác tài kỹ càng rồi ba vào lại trong đó. Tôi an tâm thế là xong rồi, chỉ còn chút nữa thôi, có gì đâu mà lo! Tới Huế, bác tài chỉ cho lên xe buýt Cầu Kho. Lên xe buýt rồi, tôi căng mắt canh chừng hễ thấy cái hồ trước nhà thì nói xe ngừng, vậy mà không biết có ngủ gục không mà xe chạy mãi chả thấy hồ đâu, toàn thấy hai bên nhà cửa lạ quá, chả giống gì quanh nhà mình, tôi bèn xuống đại rồi vô cái quán bên đường hỏi một cô ngồi đó chỉ cho đi ngược lại khá xa mới tới nhà! Hú hồn! Một nhiệm vụ khó khăn.

Nhưng thích nhất là có lần chị Lan con bà dì họ chở tôi đi chơi bằng xe đạp. Chị này chở tôi đi chầm chậm qua cầu Tràng Tiền, nhìn xuống sông Hương nước trong veo, qua bên kia là khu văn hóa, trường đại học, đường Lê Lợi nhiều cây to rất đẹp, chị chỉ tôi trường Đồng Khánh (thứ thiệt) của chị, trường rất bề thế, rộng lớn và nhiều cây phượng, bên này ngày xưa là khu hành chánh của Tây nên có nhiều tòa nhà nguy nga, kiến trúc Pháp. Cứ đi như thế qua nhiều con đường thơ mộng thì tôi thấy có một anh cũng đi xe đạp, đạp song song vừa đi vừa trò chuyện với chị, xong ghé vô một quán uống nước nghỉ chân (không có ăn). Tôi tưởng anh của chị (ở Saigon) về thăm (sao tôi ngốc thế!) nhưng khi về nhà kể cho mẹ nghe, mẹ tôi nói đó là người yêu của chị! Thì ra chị đi hẹn hò!!

Ba cũng dẫn đi viếng lăng tẩm của cố đô, tôi chỉ còn nhớ đi nhiều chỗ lắm, chỗ nào cũng rộng lớn (vua mà!), nhưng cũng rất u hoài, ảm đạm, rêu phong .. Bước bên những pho tượng quan, quân voi, ngựa to như người thật, thấy ..sờ sợ.. Mẹ còn nói người ta dấu chỗ chôn  thi hài của vua để ăn trộm không thể lấy cắp đồ chôn theo.

Tôi còn nhớ lăng Tự Đức có nhà thủy tạ cho vua ra ngồi câu, làm thơ. Lăng Khải định nhiều tranh bằng mảnh chén kiểu, Chùa Thiên Mụ, Đại Nội chỗ vua ở v.v…Chỗ nào cũng uy nghiêm, cũ kỹ, rêu phong phủ bóng buồn bã như câu thơ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (Đâu có du khách nhiều như bây giờ!). Tôi  thích nhất đồi Vọng Cảnh, nơi này cao, khoảng khoát, nhiều thông nhìn xuống khung cảnh rất đẹp bên dưới.

Ở Huế muốn thấy biển phải đi xa, bãi biển Thuận An cách Huế 15 km về phía đông. Nhà tôi cũng ra đó chơi, có mấy chị họ đi nữa, biển khá vắng và sạch đẹp.

Sắp Tết, mẹ tôi bày ra làm bánh in và các thứ mứt. Đàn bà Huế nổi tiếng là khéo nữ công gia chánh nên mẹ tôi học được từ bạn bè bà con nhiều thứ. Bánh in thì mẹ có dắt tôi đi qua bên Gia Hội mua bột nếp và bột đậu xanh của bà Đốc Chí, xong tối để ngoài trời lấy sương, sáng hôm sau mới làm. Tôi thích làm bánh này vì cũng giống như chơi đồ hàng vậy, mỗi đứa có một cái khuôn đồng, bỏ bột vào, để nhưn bằng mở gáy trộn mè lên, cho thêm lớp bột nữa rồi lấy cái nắp khuôn ịn lên ấn xuống cho đều rồi lấy ra (như người ta đúc táp lô). Làm xong thì để lên lò sấy rồi lấy giấy kiếng gói lại, đủ màu trông đẹp lắm! tôi làm không biết chán vì còn được ăn liền những cái bị bể hay xấu!

Nhưng làm mứt thì chán dễ sợ! nhất là mứt gừng nguyên củ, phải xăm cho mềm rất lâu và đau tay, chanh và cam quật (tắc) thì phải lấy dao lam gọt vỏ thật mỏng rồi cũng xăm, xăm hoài chán ơi là chán, me thì phải gọt vỏ muốn rộp tay (hồi đó sao chả thấy găng tay gì cả!). Công đoạn ngồi rim thì có nhàn hơn nhưng cũng chán ngắt, ngồi chết dí một chỗ, múc nước đường tưới lên cho đến khi cạn queo thì tôi cũng..héo queo! Xong rồi xếp ra phơi, xếp cẩn thận thì nó mới thẳng thắn, đẹp đẽ. Làm thì mất công thế nhưng ăn thì lẹ lắm, mấy chị con dì họ tôi ra đớp một loáng là hết sạch thẩu me dầm (món tôi thích nhất). Ghét Tết là vậy! Cho đến sau 75 mới thoát cái nạn làm mứt này. Mấy bà nội trợ, quý phu nhơn cứ hay dòm qua dòm lại coi có ai khéo hơn mình chăng! Còn tôi thì chỉ mong cho chóng xong mấy cái mứt này.

Xung quanh nhà tôi chả thấy hàng quán gì mà có thì tôi cũng chả có tiền mua. Mẹ tôi  không cho ăn vặt ngoài đường, mà thời ấy, đàn bà con gái không ai ăn uống quán xá gì. Đêm đêm có tiếng rao hàng nghe buồn lắm, nhất là những đêm mưa lạnh, và thường thì cả nhà tôi đã ngủ ngon rồi (trước 9 giờ).

Huế có nhiều món ăn bấy giờ đã nổi tiếng khắp nơi nhưng đặc biệt lúc đó người ta hay nói đến một quán ăn có cái tên rất lạ: Quán Âm Phủ, (nghe ghê ghê) nhưng thật ra chỉ vì quán chỉ bán vào đêm khuya và đèn dầu leo lét, ba tôi cũng dẫn mẹ và chị em tôi đi ăn một lần cho biết. Đến giờ tôi không nhớ đã ăn gì ở cái quán đó và nó ngon hay dở, chỉ nhớ đến khi ra về thì khuya rồi không còn thứ xe gì để về nhà, phải cuốc bộ thì phải! (quán này ở bên An Cựu xa lắm).

Bước ra khỏi nhà thì đàn bà ai cũng mặc áo dài, bất kể trời mưa hay nắng. Mấy người bán hàng ở chợ hay gánh hàng rong cũng vậy. Tôi nhớ có bà cụ già bán cháo đậu xanh với cá kho khô, ngon làm sao nhưng thường khi bà gánh ngang nhà tôi thì đã quá giờ ăn sáng và tôi cũng đã đến trường rồi, chỉ có Chủ Nhật hay thứ Năm nghỉ học thì ráng nhịn đói chờ bà đi ngang mới ăn được nhưng có khi bà đã bán hết trơn! Bà cụ này già lắm rồi mà gánh cái gánh có vẻ nặng lắm, lúc nào bà cũng mặc áo dài. Tôi cứ nhớ mãi món cá kho của bà, ngay cả vỏ dưa hường bà kho chung cũng ngon gì đâu! Theo tôi thì người Huế kho cá ngon nhất, người Nam thì kho ngọt quá mà người Bình Định hay Quảng Nam thì nêm mặn nhiều!

Rồi cũng hết năm học, tôi vui sướng giã từ lớp học, hí hửng chạy ra sau vườn để nhổ một cây rau đem về khoe mẹ nhưng giời ạ! chỉ còn mấy luống đất ngổn ngang, tụi nó nhổ sạch bách không còn một cọng rau!

Nói chung những ngày tháng đó cũng khá êm đềm, thế giới của tôi chỉ quanh quẩn trong thành, sau hai cái cổng Đông Ba và Thượng Tứ. Tôi không có bạn ở lớp hay bạn hàng xóm để cùng bày trò chạy nhảy vui chơi nhưng chả sao, tôi cảm thấy mình lớn rồi, không ham nhảy nhót lêu lổng nữa, tôi làm bạn với các minh tinh màn bạc lừng danh thế giới cũng thú vị rồi!

Tôi cũng hay nghe nhạc ở radio. Những bản nhạc thời đó cũng êm đềm, nào là em hậu phương anh tiền tuyến! nào là hái hoa gởi về tặng em thêu áo, … ngàn vì sao trên trời, kết thành chuỗi em đeoĐâu có ngại gì vì gió sương!..  ôm súng mơ ngày về vinh quang… Đâu có như những bản nhạc sau này như Thương ca chiến trường, Kỷ vật cho em, Ca khúc da vàng… Nghe rầu thúi ruột, nản lòng chiến sĩ quá xá!

Sau này lớn lên tôi mới biết trước đó (trước 1963) Huế sục sôi tranh đấu, sau đó tạm lắng dịu để rồi sau 1965 lại sôi sục tiếp! Các tướng lãnh choảng nhau, đảo chánh liên tục. Còn mặt trận phía tây không yên tĩnh. Chắc đêm đêm cũng có tiếng đại bác vọng về thành phố (làm ông Trịnh Công Sơn giật mình!) nhưng tôi ngủ ngon nên không nghe. Tôi, một con nhãi chín, mười tuổi, ham ăn, ham chơi, (học không ham) mới chỉ biết ca bài Khỏe vì nướcHọc sinh là người tổ quốc mong cho mai sau … nhưng cái mai sau đó còn xa lắm, chưa phải lo tới!

Tôi cứ thế tận hưởng những ngày hè không sách vở cho đến khi xảy ra chuyện với chú Chánh, kế bên nhà tôi. Chú này là giáo sư ở Bình Dương,bị động viên sau ba tôi, có hai con còn nhỏ: bé Nguyệt chừng ba tuổi và cu Dũng còn chưa biết nói. Gia đình này chẳng có ai quen biết ở đây ngoài nhà tôi nên chú Chánh gởi gắm cho mẹ tôi. Thỉnh thoảng ba tôi và chú mới về phép. Hôm đó, tôi thấy có xe jeep dừng trước nhà, có ông Tiểu đoàn trưởng và mấy người nữa vào nhà nói chuyện gì đó, tôi thấy có vẻ khác thường.

Sau đó mẹ tôi nói chú Chánh bị mất tích rồi! Cả hai nhà đều buồn. Đó là tình huống tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra! Tôi chưa hề biết rằng ba tôi cũng có thể không trở về. Cho đến lúc đó tôi mới chạm mặt Nỗi buồn chiến tranh.

Bây giờ, nhớ lại chuyện này, tôi hình dung ra tình cảnh của mấy bà vợ lính, xa quê, con nhỏ, chồng ở nơi nguy hiểm. Đó là lúc chiến tranh chưa khốc liệt như sau năm 65.

Rồi ba tôi nói cả nhà dọn về Qui Nhơn. Ba tôi vào Dục Mỹ rồi sẽ giã từ vũ khí. Điều này chúng tôi đã đợi bao lâu nay. Khỏi nói tôi mừng hết lớn!

Tôi hân hoan hớn hở háo hức chờ NGÀY TRỞ VỀ.

Bồng Sơn
(Theo nthqn.org)

Similar Articles

Nhớ cá chỉ vàng rim của mạ

Nhớ cá chỉ vàng rim của mạ

Chiều, cơn mưa dông bất chợt, tôi nhớ ngay là phải điện thoại về dặn

Ký ức mùa thi

Ký ức mùa thi

Thấm thoắt mà đã gần 40 năm, kể từ ngày ba chở tôi đi thi

Ký ức mồng Năm

Ký ức mồng Năm

Ở làng mình đúng là sau Tết thì vui nhất là tết mồng 5 coi

Mùi khói vương chái bếp

Mùi khói vương chái bếp

Trên đường đi công tác chiều nay, lúc xe chạy ngang một ngôi làng nhỏ,

Huế trong hoài niệm

Huế trong hoài niệm

Sau ngày giải phóng Huế 26/3/1975, biết bao niềm vui, hạnh phúc ngập tràn đến

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose