Văn hóa Huế | Homepage

Tam Giang giai thoại

0 Comments 🕔19.Nov 2015

Bắn hạ sóng dữ, cứu chúa ‘hóa thần’

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai (Thừa Thiên-Huế) không chỉ là hệ thủy vực nước lợ lớn nhất Đông Nam Á mà nơi đây còn có những câu chuyện đầy kỳ bí được ghi chép hoặc truyền miệng từ xa xưa.

Tam Giang luôn là nỗi khiếp sợ của người xưa, gắn liền với câu ca dao nổi tiếng được lưu truyền: Thương em anh cũng muốn vô/Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang…
Sách Ðại Nam nhất thống chí chép: “Phá Tam Giang ở địa phận hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, trước gọi biển cạn (Hạt Hải), năm Minh Mệnh thứ 2 đổi tên như hiện nay, nam bắc dài 30 dặm, đông và tây rộng chừng 6 dặm. Từ hạ lưu sông Lương Điền chảy xuống phá, về phía tây nam có dòng nước đổ vào một là cửa sông Tả, một là cửa sông Trung, một là cửa sông Hữu. Mỗi dòng đều chảy chừng 2, 3 dặm mà vào nên gọi là phá Tam Giang, lại chảy về phía đông nam 25 dặm, mà hợp với sông Hương để ra cửa Thuận An. Nước sông sâu rộng, thường có sóng gió bất trắc, thuyền đi nên đề phòng”.
Sóng Ông, sóng Bà, sóng Con
Sóng dữ trên phá từng là nỗi ám ảnh của nhiều cư dân vùng đầm phá. Chính vì thế, nhiều câu chuyện kỳ bí được lưu truyền lại cho đến ngày nay. Ông Trần Hải (44 tuổi, trú thôn 9, xã Điền Hòa, H.Phong Điền) kể: “Ngày xưa, không ít người bỏ mạng vì bị sóng nhấn chìm. Vùng này có 3 sóng dữ gồm sóng Ông, sóng Bà và sóng Con. Ngư dân trên phá sợ nhất là khi các sóng thần nổi giận. Nhưng giờ hết rồi, nghe nói có ông quan nào đó trị…”.
Vị quan “trị” sóng dữ Tam Giang là ông Nguyễn Khoa Đăng, Nội tán kiêm Án sát sứ, Tổng tri quân quốc trọng sự diên tường hầu thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725). Tương truyền, Nguyễn Khoa Đăng có tài xử kiện, đủ trí xét ngay gian, cho nên được người đời gọi là “Bao công”. Những chuyện như ông tìm ra được kẻ trộm dưa hấu, trộm dầu và trộm giấy… đến nay hãy còn truyền tụng. Chuyện trừ sóng dữ ở phá Tam Giang được lưu truyền lại rất ly kỳ rằng sóng dữ đã bị ông bắn hạ, sau khi bắn, một luồng đỏ như máu từ từ loang ra trên mặt phá…
Theo sách Truyện kể dân gian Thừa Thiên-Huế do GS Tôn Thất Bình chủ biên, Nguyễn Khoa Đăng loan tin sẽ cho quân dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa. Đến ngày đã định, ông đem súng hướng ra phá, ra lệnh bắn sóng… Nhưng thực ra, trước đó ông đã sai người đào mở rộng cửa phá, cho nên sóng dữ mới không còn. Vì thế, dân gian ngày nay vẫn còn câu ca: Thương em anh cũng muốn vô/Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang/Phá Tam Giang ngày rày đã cạn/Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm. Công trị sóng dữ của Nguyễn Khoa Đăng đã được sách Ðại Nam nhất thống chí ghi nhận: “Hồi đầu bản triều, nội tán Nguyễn Khoa Đăng đào đường kênh khác thông sông cái để giảm bớt thế nước, từ đấy sóng bớt dần, thuyền đi thuận lợi”.
Người đàn bà đánh cá “hóa thần”
Về H.Quảng Điền (Thừa Thiên-Huế) hỏi Bà Tơ hầu như ai cũng biết. Miếu Bà Tơ ngày nay còn ở làng Bác Vọng, xã Quảng Phú.
Theo ông Đặng Minh Phú, trưởng thôn Bác Vọng Đông, giai thoại xưa kể rằng trong một trận thủy chiến trên phá Tam Giang hơn 400 năm trước, chúa Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng bị truy đuổi. Quân lính đang ra sức chèo thuyền thì bị đứt quai chèo. Tình thế nguy cấp cận kề. May thay, ngư dân Trần Thị Tơ, người làng Bác Vọng, đang làm nghề cá trên phá đã nhanh chóng dâng mớ tơ (còn gọi là tay lưới) giúp quân chúa Nguyễn bện lại tay chèo. Nhờ đó, chúa cùng đoàn tùy tùng thoát hiểm.
Cảm kích ơn cứu mạng, chúa Nguyễn Hoàng ban cho bà một ân huệ. Trước sự chứng kiến của đông đảo bề tôi cùng dân chúng, chúa Nguyễn cho thả bã mía trên sông Bồ, phía trước làng Bác Vọng. Bã mía xuôi theo dòng đến đâu thì bà Tơ được quyền cai quản đến đó. Bã mía trôi theo dòng nước chảy, rồi dạt vào bờ và đó được xác định là nơi xa nhất trong giang phận, được quyền canh tác và khai phá của làng Bác Vọng. Không biết thực hư của câu chuyện ra sao, chỉ biết rằng cư dân làng Bác Vọng có quyền canh phá và khai thác ít nhất từ đầm Hà Lạc ở phía thượng nguồn phá Tam Giang (thôn Hà Lạc, xã Quảng Lợi) cho đến vùng “trộ bã mía” ở khu vực giữa phá Tam Giang (nay thuộc địa phận thôn Mai Dương, xã Quảng Phước). Tại miếu thờ Bà Tơ vẫn còn hai câu đối nói rõ về công lao của bà: Mặt nước hưởng nhờ ơn vũ lộ/Dây tơ cứu khỏi trận phong ba.
Về sau, khi Bà Tơ mất, chúa Nguyễn cho xây miếu thờ. Từ đó đến nay, người dân Quảng Điền xem bà như thần chuyên phù trợ vượt qua hiểm nguy mỗi khi có việc ra biển. Tưởng nhớ công lao của người đàn bà huyền thoại, cả trên sông Bồ lẫn phá Tam Giang, dân làng Bác Vọng vẫn tổ chức cúng tế thường niên vào dịp Minh niên nhằm ngày 11 và ngày 12 tháng giêng, và húy nhật nhằm ngày 18 tháng 5 âm lịch. Lễ tế miếu Bà Tơ đã được đưa vào chương trình của lễ hội Sóng nước Tam Giang.

Cặp rái cá giúp vua thắng trận

Cửa biển Tư Hiền (H.Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế) là nơi thông hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với Biển Đông, không chỉ là một thắng cảnh nổi tiếng của đất thần kinh mà còn gắn liền với nhiều giai thoại lịch sử.

Nơi bái vọng tổ tiên
Mỗi lần có dịp qua cầu Tư Hiền, bắc qua đầm Cầu Hai nối hai xã Vinh Hiền và Lộc Bình (H.Phú Lộc), cảnh vật nơi đây khiến nhiều người phải ngỡ ngàng. Một bên là cửa biển hướng ra Biển Đông rộng lớn, một bên là đầm Cầu Hai mênh mông bên chân núi, non nước thật hữu tình. Câu chuyện về châu Ô, châu Lý và công chúa Huyền Trân lại gợi lên trong tôi về những giai đoạn lịch sử quan trọng của vùng đất Thuận Hóa.
Cửa Tư Hiền xưa nằm dịch về phía nam khoảng 5 km, thuộc thôn Hải Bình (xã Lộc Binh, H.Phú Lộc). Người dân vẫn quen gọi cửa mới là cửa Tư Hiền, cửa cũ là cửa Tư Dung. Đầu năm 1811, do có lụt lớn, cửa biển Tư Dung bị lấp cạn dần, đồng thời hình thành một cửa biển mới ở vị trí của cửa biển Tư Hiền hiện nay. Đến năm 1823, cửa Tư Dung bị lấp cạn và hẹp đến mức thuyền lớn không đi qua được, người dân sống hai bên cửa có thể lội qua. Năm 1844 có lụt lớn, cửa bị lở rồi lại bồi…
Không chỉ thay đổi vị trí, cái tên của cửa biển này cũng biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, cửa biển Tư Hiền có tên vào đời Lý là cửa biển Ô Long, đời Trần gọi là Tư Dung, Ngụy Mạc đổi là Tư Khách, đời Lê lại gọi là Tư Dung. Lại có tên nữa là cửa Ông và tên nữa là cửa Biện. Bản triều năm Thiệu Trị thứ 1 đổi tên hiện nay. Trong đó cái tên Tư Dung được gắn liền với câu chuyện cảm động về Huyền Trân công chúa. Vì thế, dân gian vẫn thường gọi cửa biển này với cái tên đầy ẩn ý Tư Dung (Tư là nghĩ đến, tưởng nhớ đến. Dung là nét mặt, dung nhan, ý chỉ nàng công chúa nhà Trần xinh đẹp).
Theo ông Phạm Yên (82 tuổi, trú tại thôn An Bình, xã Lộc Bình), chuyện xưa kể rằng, năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm là Chế Mân. Khi xuất giá sang nước Chăm, công chúa Huyền Trân đã ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Người đời sau dùng hai chữ Tư Dung để đặt tên cho cửa biển này nhằm tưởng nhớ công ơn nàng công chúa đã vì lợi ích của đất nước mà hy sinh hạnh phúc riêng tư. Từ đó, cái tên Tư Dung được nhiều người gọi.
Biết ơn cặp rái cá phù trợ vua
Thêm một câu chuyện gắn liền với cửa biển Tư Hiền và hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là chuyện về Lang lại nhị đại tướng quân. Giai thoại xưa kể rằng, khi Nguyễn Ánh tấn công vào phòng tuyến Linh Thái – Tư Dung của triều Tây Sơn do Nguyễn Văn Trị trấn giữ, trong một đêm mưa gió, Nguyễn Ánh lợi dụng cơ hội thời tiết để đánh vào phòng tuyến. Tuy nhiên, do đêm tối nên không xác định được vị trí của cửa biển. Từ biển nhìn vào đất liền chỉ thấy hai đốm sáng. Nguyễn Ánh bèn cho thuyền nhỏ vào thám thính thì phát hiện đó là mắt hai con rái cá hai bên cửa biển. Nguyễn Ánh cho rằng đó là điềm lành, bèn cho quân tiến vào. Một mặt đánh trực diện vào vị trí hai con rái cá, một mặt cho quân đánh từ đầm Hà Trung xuống nhằm tạo thế gọng kìm. Đợt tấn công này, quân Nguyễn Ánh thắng lớn. Sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh luận công ban thưởng nên đã phong tặng cặp rái cá là “Lang lại nhị đại tướng quân” để tỏ lòng biết ơn đã phù trợ.
Đối chiếu lịch sử, trận đánh này được ghi trong sách Đại Nam nhất thống chí như sau: “Hồi đầu trung hưng của bản triều năm Tân Dậu, đại binh tiến đến cửa biển Tư Hiền, phò mã Tây Sơn là Nguyễn Văn Trị giữ núi này (núi Linh Thái – PV) để chống cự, quân ta không tiến được. Lê Văn Duyệt nhân ban đêm đốc thúc quân sĩ đội thuyền vượt bờ biển tiến thẳng vào phá Hà Trung đánh tan được quân Tây Sơn”.
Miếu Lang lại nhị đại tướng quân giờ đây vẫn còn là một ẩn số. Theo ông Ngô Hoàng Long, cán bộ tuyên giáo UBND xã Vinh Hiền, miếu Lang lại nhị đại tướng quân hiện nằm ở xã Lộc Bình, xã mới thành lập, vốn trước đây thuộc xã Vinh Hiền. Đây chính là ngôi miếu thờ hai con rái cá. Ngôi miếu này nằm bên cạnh đầm phá. Miếu được người dân trong vùng gọi là miếu Hung Thần (hay miếu Công Thần) và người dân e sợ, không ai dám đến gần do không chỉ linh thiêng mà đến đó có thể gặp tai họa vì phạm thượng. Bà Nguyễn Thị Ba (83 tuổi, trú tại thôn An Bình, xã Lộc Bình) có nhà cách miếu không xa nói: “Miếu Hung Thần là miếu hoang, không ai dám tới. Đi ngang phải cúi đầu, yên lặng. Vào buổi trưa không nên đi ngang. Miếu này là một ngôi miếu thiêng, hung dữ. Nghe nói miếu này có từ lúc xưa, giờ cây cối phủ lên um tùm càng ít ai lui tới”.
Ngoài ra còn rất nhiều câu chuyện mang màu sắc ly kỳ liên quan đến cửa biển Tư Hiền. Chuyện lở, bồi, dịch chuyển cửa biển Tư Dung hay Tư Hiền diễn ra rất nhiều lần trong lịch sử. Thật đáng tiếc hiện nay, cửa Tư Dung được ca tụng ngày xưa đã cạn khô và dần đóng cửa. Tuy nhiên, những giai thoại về cửa biển Tư Dung xưa vẫn trường tồn trong lịch sử và truyền miệng trong dân gian.

Tuyết Khoa
(Theo Thanh Niên)

Similar Articles

Chiêm ngưỡng sự huyền diệu đến lạ kỳ của lối trang trí “nhất thi nhất họa” tại Huế

Chiêm ngưỡng sự huyền diệu đến lạ kỳ của lối trang trí “nhất thi nhất họa” tại Huế 0

Huế là nơi rất nổi tiếng và thu hút được rất nhiều khách tham quan

Bạch Mã – non xanh không dành cho xe máy

Bạch Mã – non xanh không dành cho xe máy 0

Nguyên là khu nghỉ dưỡng xa hoa- niềm tự hào của giới quý tộc kinh

Ngắm sông Hương từ trên cao để thấy một vẻ đẹp Huế khác lạ, mênh mông tới choáng ngợp

Ngắm sông Hương từ trên cao để thấy một vẻ đẹp Huế khác lạ, mênh mông tới choáng ngợp 0

Đối với người phương Đông mỗi công trình đều gắn liền với yếu tố phong

Huế về đêm có gì thú vị?

Huế về đêm có gì thú vị? 0

Các hành trình du lịch ở Huế thường rất phong phú. Tuy nhiên, những hoạt

Lăng mộ vị hoàng tử nổi tiếng thời vua Minh Mạng

Lăng mộ vị hoàng tử nổi tiếng thời vua Minh Mạng 0

Thăm lăng Tùng Thiện Vương, người con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, một

No Comments

No Comments Yet!

No one have left a comment for this post yet!

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose