Văn hóa Huế | Homepage

Tản mạn quanh chợ Đông Ba

0 Comments 🕔20.Dec 2015

Có lẽ không có ngôi chợ nào trên đất nước này mà lại đi vào những ca khúc trữ tình nổi tiếng một thời như chợ Đông Ba của Huế. Những biến thiên lịch sử, số phận cuộc đời, duyên phận nổi trôi của ngôi chợ bên dòng Hương Giang chìm nổi đã tạo thêm những nỗi niềm cho Huế.

Trong Tiếng sông Hương của Phạm Đình Chương ta như nghe được nỗi niềm đó: “Phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ. Bến Văn Lâu thuyền vó đơm sầu”. Hay nỗi sầu của lòng người giữa một buổi chiều Mưa trên phố Huế trong thơ Tôn Nữ Hỷ Khương được Minh Kỳ phổ nhạc “Chợ Đông Ba khi mình qua. Lá me bay bay là đà. Chiều thiết tha có anh bên mình mà ngỡ hôm qua. Hò ơi! Ơi hò! Chiều mưa. Phố buồn…”. Chợ Đông Ba là hồn của phố Huế.

Chợ Đông BaChợ Đông Ba cũ

Chợ Đông Ba sau đại trùng tu năm 1987

Người Huế ở vùng nông thôn xa khi lên thành phố thường gọi là đi Dinh, lên Dinh, vùng nông thôn gần hơn gọi là đi Huế, vùng ngoại ô gọi là đi phố và ngay ở trong thành phố cũng gọi là qua phố, lên phố, xuống phố. Mà ở Huế nơi được gọi là phố chỉ có chợ Đông Ba, đường Trần Hưng Đạo, đường Phan Bội Châu (bây giờ là Phan Đăng Lưu). Đường Huỳnh Thúc Kháng tấp nập, đường Chi Lăng nhộn nhịp cũng không được gọi là phố. Trục đường Hùng Vương, Lê Lợi phát triển sầm uất sau này không gọi là phố. Ngay cả đường Trần Hưng Đạo, chỉ có đoạn từ ngoài cửa Thượng Tứ trở xuống mới gọi là phố. Phố của Huế gắn với quá trình dịch chuyển của ngôi chợ trung tâm là chợ Đông Ba và hai dãy phố ra đời từ cuối thế kỷ XIX.

Năm 1899, chợ Đông Ba được chuyển từ nơi bây giờ được gọi là Ngã Giữa ra vùng đất ven bờ sông Hương, thường được gọi là Giại. Nơi đó trước đây có các dãy trại và địa danh Giại là do một sự đồng hóa ngữ âm mà ra. Chợ Đông Ba dưới thời Gia Long có tên là Qui Giả, nghĩa là trở về, chợ của những người trở về sau chiến tranh triền miên. Sau chợ có tên là Đông Hoa do ở gần cửa Chánh Đông của Kinh thành Huế. Kiêng húy tên bà Hồ Thị Hoa, mẹ vua Thiệu Trị nên Đông Hoa đổi tên thành một âm có cùng chữ viết là Đông Ba (cửa Đông Ba, sông Đông Ba, cầu Đông Ba). Khi chợ chuyển ra từ năm 1899 thì đó cũng là thời điểm hoàn thành xây dựng cầu Trường Tiền, ra đời dãy phố buôn bán trên trục đường Trần Hưng Đạo ngày nay theo một đạo dụ của vua Thành Thái. Bộ Hộ và bộ Công làm nhiệm vụ phân lô, ai muốn xây thì nhận một lô để xây nhà hướng về chợ Đông Ba. Dãy phố hình thành nối vuông góc với dãy phố bên ngoài cửa Đông Ba có từ thời Đồng Khánh để trở thành là phố của Huế sau này.

Như máu chảy về tim, trong một thời gian dài, chợ Đông Ba là trung tâm của thành phố Huế, mọi con đường, mọi chuyến xe đều đổ về nơi ấy từ những chiếc xe Lam ba bánh giản dị tuyến gần ven phố, những chiếc xe đò xanh đỏ vàng lục lam lũ đi các huyện, những chiếc tắc-xông sang trọng vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng.

Trên bến dưới thuyền. Thuyền về Đại Lược, Thuận An, Tư Hiền, thuyền ngược bến Tuần, Tân Ba, Dương Hòa và cả đò chèo tay đưa khách qua về Đập Đá – Đông Ba.

Đò từ Đông Ba
Đò qua Đập Đá
Đò từ Vỹ Dạ
Thẳng Ngã Ba Sình
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh
Tiếng hò xa vọng thắm tình nước non
(Hò mái nhì)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mỗi người có những kỷ niệm riêng về ngôi chợ như trái tim Huế không bao giờ ngưng nhịp đập ngay trong những lúc phong ba, giặc giã, cũng như những kỷ niệm trên các tuyến đường xuôi về phố chợ. Những người sống ở thành phố này trước năm 1975 có lẻ không bao giờ quên được hình ảnh những chiếc xe đò màu xanh nước biển, những chiếc xe không thôi chạy trong tiềm thức của những người Huế xa quê, của ký ức những người Huế hôm nay nhớ về những năm tháng cũ.

 

Xe đò được đánh số chẵn là các tuyến xe nằm ở bờ Bắc, số lẻ là các tuyến xe nằm ở bờ Nam sông Hương rất khoa học và thuận lợi cho giao thông thành phố. Mỗi tuyến có từ dăm xe đến cả mười mấy xe chờ khách ở bến hay lưu thông trên tuyến. Số 1 An Cựu, số 2 Bao Vinh, số 3 Bến Ngự, số 4 Chợ Dinh, số 5 Từ Đàm, số 6 Cầu Kho, số 7 Long Thọ, số 8 Kim Long, số 9 Thuận An, số 10 Văn Thánh, số 11 Dạ Lê, số 12 An Hòa, số 13 An Lăng, số 14 Tây Lộc. Chỉ đợi từ 10 đến 20 phút là có chiếc xe đò qua. Đứng bên đường, chỉ cần một cái vẫy tay là xe dừng lại đón dù là một cụ già tóc bạc hay cậu học trò nhỏ học chưa xong bậc tiểu học. Xe đò đưa quang gánh mẹ xuôi về phố, đưa ba về công sở, đưa em hai buổi đến trường. Lên xe đò bất kể trước sau, người nhỏ tuổi nhường chỗ ngồi cho người lớn tuổi, nam nhường chỗ ngồi cho nữ dù không có một chút tình ý nào của lần đầu tiên gặp mặt. Người ta thường nói các chuyến xe chở đầy phức tạp cuộc đời nhưng tôi thấy xe đò Huế dạo ấy sao mà sạch sẽ, đáng yêu đến thế dù trên xe vẫn chứa những gánh rau vùng ngoại ô, những hàng cá vùng sông biển, gánh dưa mắm dưới làng quê lên. Từ o hàng xén đến gánh bánh canh Nam Phổ, bún bò An Cựu, cơm hến bên Cồn đều nhẹ nhàng trong chiếc áo dài bình dị. Trên xe đò, người ăn mặc tươm tất cũng gần gũi với người hành khất vật vưỡng trên xe.

Bến xe đò Đông Ba
Đường Trần Hưng Đạo hướng chạy qua cầu Gia Hội, mé bên phải là bến xe đò, sát bên chợ Đông Ba

Lên chiếc xe đò đi phố là cảm thấy thú vị khi xe bon bon đi tới, nhìn thấy cây cối chạy ngược bên đường, nhà cửa đi lại đằng sau, đi qua những con đường toà ngang dãy dọc. Xuống xe đò là được vô các rạp Hưng Đạo, Tân Tân, Châu Tinh, Z 96 coi xi nê võ lâm kiếm hiệp, hay tần ngần trước cảnh phim có những hình ảnh mùi mẫn của các minh tinh điện ảnh nước ngoài với dòng chữ “cấm trẻ em dưới 16 tuổi”. Xuống xe đò đi phố là được ngắm nhìn những cuốn sách đẹp bày trong các hiệu sách Gia Long, Ưng Hạ, những loại hàng hóa xa hoa ở các hiệu buôn Vĩnh Thái, Bảo Thạnh… Ấn tượng nhất vẫn là cái oi nồng cuốn hút của chợ Đông Ba lao xao người mua kẻ bán. Cái gì cũng đẹp, cũng mới, cũng ngon từ những ly nước é, nước sáo, nước xi rô nhiều màu bên bến xe đò ven sông, những gánh bún nóng hổi nằm sau góc chợ, những cây súng pháo bắn nổ đoành đoành, những con búp bê dễ thương biết mở, nhắm mắt, những hàng vải lụa, vải xoa, hàng xa tanh Mỹ Á mời gọi dưới lầu chuông đến cả những vựa mắm và cá tươi đủ loại trên chợ cá cũng nhiều điều mới lạ. Thấy thích, thấy lạ cả lời mệ bán hàng mời mọc, o bán hàng cao giọng nói thách, người khách mần đày, đến cả tiếng chửi cũng lạ lẫm, bùi tai… Nhiều nhất là tiếng cười có mặt mọi nơi làm cho khuôn mặt chợ Đông Ba luôn rạng rỡ, sống động, những mặt tiền đường phố rực rỡ muôn màu mặc cho chiến sự rất gần, bom đạn đêm ngày dội về thành phố, hàng kẽm gai bố ráp quanh chợ, góc phố khi thế sự nóng lên trên thành phố này.

Chợ Đông Ba là hậu phương vững chãi của các cuộc bãi khóa, biểu tình của học sinh, sinh viên Huế đòi hòa bình, thống nhất đất nước, sẵn sàng tiếp tế lương thực, nước uống, che chở sinh viên, học sinh những lần bị đàn áp và khi cần cũng xuống đường bãi thị hòa cùng nhịp đập trái tim tranh đấu của con em mình. Đông Ba là bà mẹ Huế nghiêm khắc nhưng cũng nhân hậu, bao dung, thơm thảo.

Năm 1967 chợ Đông Ba được xây dựng mới nhưng chiến tranh Mậu Thân năm 1968 đã làm cho công trình dang dở và năm 1972 chợ lại bị đám tàn quân thất trận trong chiến dịch Mùa Hè 1972 đốt cháy.

Chợ Đông Ba những năm cuối của cuộc chiến tranh và những năm mới giải phóng lộn xộn, u ám, dở dang vì loạn lạc và nghèo khó. Kiến trúc chợ là một khối bê tông nặng nề không phù hợp với dòng sông Hương và cầu Trường Tiền duyên dáng. Đến năm 1987, chợ mới được sữa chữa theo hướng thông thoáng và mềm mại hơn với bản thiết kế của kiến trúc sư Lê Văn Rọt ở một đơn vị thiết kế thuộc Bộ Thương mại. Kiến trúc chợ mới bố trí cho 1500 hộ kinh doanh nhưng xếp đặt, cơi nới qua từng năm để hiện nay chợ có hơn 2500 hộ buôn bán cố định, hơn 200 lô bạ và gần 1000 người buôn bán rong đón mỗi ngày gần 10000 người ra vào mua sắm, tham quan. Không gian chật chội ấy cũng như sự bất cẩn của các hàng hương đèn, vàng mã trong một đêm hè đã nhen nhóm và làm bùng lên ngọn lửa thiêu cháy một phần ngôi chợ trong một ngày giữa năm 1998 mới qua Tết Đoan Ngọ.

Ngoài khu chợ chính trong và ngoài Lầu Chuông, chợ Đông Ba còn có các chợ cá ven sông, các khu tự sản, tự tiêu, nơi giữ xe và bãi đỗ ô tô. Ở đầu đường Chương Dương còn có một khu chợ gọi là “Chợ Xanh” đông vào lúc quá nửa đêm cho đến lúc trời chưa rạng sáng. Đó là chợ đầu mối của các loại rau xanh, hoa quả từ nông thôn lên, từ Đà Lạt về và từ đây những chiếc xích lô, xe máy mang hàng toả đi các chợ trong thành phố, các vùng ngoại ô, phụ cận xa gần. Một trung tâm thương mại khá qui mô cũng được xây dựng trên vùng đất này.

Thời buổi bây giờ, dù siêu thị, trung tâm thương mại, các chợ được xây dựng khắp nơi nhưng Đông Ba vẫn có vị trí riêng trong lòng người Huế. Những ngày Tết đến hay những dịp cúng giỗ trong gia đình, người phụ nữ Huế nào cũng muốn đi chợ Đông Ba, vừa để mua hàng cho có vẻ trang trọng hơn, vừa để coi ngó có gì khác lạ nơi ngôi chợ tần tảo chở đầy ký ức đời người.

Du khách gần xa cũng vậy, sau những buổi thăm hoàng cung, lăng tẩm u hoài, mọi người đều muốn đến chợ Đông Ba nhộn nhịp để xem ngôi chợ thường được cả nước nhắc đến với tình cảm yêu thương, trân trọng, để được nghe tiếng Huế giữa đời thường, để có món quà lưu niệm một ngày đến với cố đô xưa.

Trả lời câu hỏi lúc chưa rời xa “cõi tạm” rằng vì sao có một thời gian dài sống ở Huế nhưng trong các sáng tác không nhắc đến một địa danh nào của Huế, nhạc sĩ họ Trịnh cho biết dù không nhắc đến nhưng Huế luôn hiện hữu trong các ca khúc của anh, nhất là các ca khúc sáng tác trước năm 1975. Tôi không sành âm nhạc, không hiểu lắm về ca từ nhưng tôi tin chắc rằng trong ca khúc Chiều một mình qua phố những câu như “Chiều một mình qua phố. Âm thầm nhớ nhớ tên em” thì không gian, thời gian và tình cảm đó là ở xứ Huế này. Và sau năm 1975, trước lúc rời Huế anh đã để lại một ca khúc không có từ nào là Đông Ba nhưng vẫn bàng bạc không gian Huế và ngôi chợ của một chiều qua phố dù sau này ít ai nhắc đến. Đó là ca khúc Gánh rau về chợ.

Nguồn: Sưu tầm Internet

 

Similar Articles

Mía “tiến vua”

Mía “tiến vua” 0

Có thể tên gọi “mía cơm rượu” là do ngày xưa, khi vận chuyển mía

Giải mã bức bình phong miếu cây thị làng cổ Phước Tích

Giải mã bức bình phong miếu cây thị làng cổ Phước Tích 0

Phía trước miếu có khắc 3 chữ  Hán “Hiển Linh Miếu” bằng lối đại triện.

Ăn ấm

Ăn ấm 0

Huế trở lạnh, hơi thở vừa phà chút khói là đầu óc đã quay cuồng

Xem đám cưới ngày xưa

Xem đám cưới ngày xưa 0

Hình ảnh đám cưới của người Huế ngày trước với những lễ vật cau lồng,

Về đồng ăn cá

Về đồng ăn cá 0

Nhớ lần được anh Phú người làng Vân Trình mời về nhà ăn cá rô

No Comments

No Comments Yet!

No one have left a comment for this post yet!

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose