Văn hóa Huế | Homepage

Du lãm Ngự Hà

🕔21.Apr 2016

          Du lãm Ngự Hà là nói cho “oai”, chứ Ngự Hà là dòng sông dành cho vua đi chơi, ngắm cảnh, chứ có dành cho dân đâu (?) Khi xưa, Ngự Hà vào cuối hạ, đầu thu, hoa sen khoe sắc, tỏa hương, nhà vua cùng hoàng hậu và các cung tần, mỹ nữ thường dùng thuyền rồng dạo chơi. Ngoài mùa sen, khi đi thyền trên Ngự Hà, nhà vua và đoàn tùy tùng có thể ghé qua các vườn thượng uyển như vườn Thư Quang và vườn Thường Thanh ở bờ bắc Ngự Hà, vườn Thường Mậu ở bờ nam – tất cả các vườn này đều có hồ thông với Ngự Hà và có các đình, tạ, cây cảnh để nhàn lãm. Bên dòng Ngự Hà còn có các cung điện như Khánh Ninh, Bảo Định, để vua nghỉ ngơi. Còn ngày nay khi các sông ngự, vườn ngự, đã vào tay dân thì, bấy lâu nay, dân chỉ xây “thủy tạ” bên dòng sông xanh để trú ngụ và làm nhà vệ sinh (!); vườn ngự với hoa cỏ, đình, tạ và cung điện có còn đâu mà ngắm!

Thật ra, Ngự Hà nguyên là dòng sông tự nhiên chảy băng qua khu vực được chọn để xây kinh thành (sông Kim Long) theo hướng từ tây sang đông, và được hai kiến trúc sư của kinh thành là vua Gia Long và vua Minh Mạng uốn nắn lại theo hình thẳng góc cho đẹp và để thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa như lúa, tiền, vật liệu xây dựng từ sông Hương vào các kho trong thành nội. Sông cũng cung cấp nước sinh hoạt cho dân trong thành và quan trọng nhất là thoát nước để thành nội khỏi ngập úng trong mùa mưa lụt.


Ngày nay vẫn còn hai tấm bia đá mà vua Minh Mạng cho khắc đề đời sau biết rõ lịch sử của dòng sông, cũng như những chiếc cầu được xây dựng trên dòng sông, đó là Ngự Hà Bi Ký và Khánh Ninh Kiều Bi Ký. Theo đó, vua Gia Long , vào năm 1805, cho uốn nắn dòng sông bắt đầu từ Võ Khố (cơ quan phụ trách chế tạo, mua sắm vũ khí, tàu thuyền, và các đồ dùng khác cho quân đội – đóng tại nơi bây giờ là trường Đại Học Nông Lâm và Kinh Tế) thông với Đông Hộ Thành Hà (tức là sông Đông Ba). Vua cũng cho xây cầu trên đường từ cửa Đông Nam (Thượng Tứ) chạy thẳng ra cửa Chánh Bắc (Hậu), bây giờ là cầu Kho, và cầu ở đầu kia của Ngự Hà, bây giờ là cầuThanh Long. Vua Minh Mạng đã cho đào tiếp (1825) thông ra phía Tây ở Tây Thành Thủy Quan, và xây lại các cầu gỗ thành cầu đá. Vua cũng cho xây các cầu Vĩnh Lợi, Khánh Ninh, Thủy Quan và cầu bên ngoài quách phía tây kinh thành là cầu Hoằng Tế. Vua Minh Mạng cũng là người đặt tên cho dòng sông này là Ngự Hà.

Sau một thời gian dài, kể từ năm 1945, bị rơi vào quên lãng, Ngự Hà bị cạn dần do phù sa trầm lắng và rác bẩn thải bừa bãi, cho nên con sông không làm tròn chức năng thoát nước, khiến thành nội thường bị ngập úng trong mùa mưa. Thêm vào đó, sự lấn chiếm Ngự Hà và các con đường ven sông để làm nhà ở, canh tác làm mất vẻ mỹ quan cũng như vệ sinh môi trường. Gần đây, thành phố đã có dự án chỉnh trang Ngự Hà, giải tỏa những nhà lấn chiếm, nạo vét thông dòng, làm lại đường ven sông, và trong tưong lai, mở một tuyến du lịch trên sông dòng sông vua. Dự án bắt đầu cách đây hơn 10 năm, nhưng có lẽ vì lý do thiếu hụt tài chính nên đến nay vẫn chưa xong

Nhóm “rong chơi ta bà” không đợi cho dự án hoàn thành, đã thuê ca nô (hình như các thuyền du lịch khác không được phép lưu thông trên dòng sông vua), dẫn vài con cháu đi một vòng “du lãm” cho biết công trình sáng tạo của người xưa.

          Nhóm du lãm hôm nay ngoài hai bô lão là Dũng Silk và Bảo Trần, còn lại là những thanh niên lứa tuổi đôi mươi gồm con, cháu của Dũng Silk và bạn bè của cu Silk.

Cuộc du hành bắt đầu từ Bến đò số 5 Lê Lợi – nằm cạnh khách sạn Residence (trước đây là Tòa Đại Biểu Chính Phủ tại Trung Nguyên Trung Phần).

Bến đò có biển báo P : Parking, giống như biển báo đường bộ

Đây là những chiếc ca nô 4 chỗ

Và đây là chiếc ca nô 7 chỗ mà nhóm sắp thuê đi du lịch – đang bỏ neo cạnh một chiếc thuyền rồng. Bên trong ca nô có chỗ ngồi cho 4 người.


Tài công ngồi bên ngoài, ghế màu trắng bên phải. Những người khác có ghế ngồi bên trái và sau lưng tài công. Tất cả phải mặc áo phao.

Chiếc ca nô lao về hướng về cầu Gia Hội, chui qua dạ cầu Phú Xuân, tạo ra những cơn sóng đằng sau khiến du khách phải quay đầu nhìn lại.


Lộ trình là đi qua sông Đông Ba, vào Ngự Hà qua cống Thanh Long và ra khỏi Ngự Hà qua cống Tây ThànhThủy Quan.

Chiếc ca nô đã đi quá cầu Trường Tiền – chiếc cầu trông như một chiếc lược ngà cài vào mái tóc sông Hương.


Xa xa là núi rừng phía tây xứ Huế.

Nhà hàng nổi có hình hoa sen nằm cạnh cầu Trường Tiền, trước mặt trường Đại Học Sư Phạm. Hậu cảnh là núi Kim Phụng oai nghi.


Vầ mặt quân sự, sông Hương tạo ra một tuyến phòng thủ ở mặt nam kinh thành, một chướng ngại vật tự nhiên mà quân địch phải vượt qua nếu tấn công vào thành nội. Ba mặt kia vua Gia Long cho đào ba con sông gọi là Hộ Thành Hà: Tây Hộ Thành Hà, dân gian gọi là sông Kẻ Vạn, Bắc Hộ Thành Hà, dân gian gọi là sông An Hòa hay sông Đào, và Đông Hộ Thành Hà, người ta thường gọi là sông Đông Ba hay sông Gia Hội. Sát chân thành còn có hào nước là một chướng ngại vật nhân tạo khác.

Cầu Gia Hội chạy từ phố Trần Hưng Đạo và chợ Đông Ba sang đường Chi Lăng, băng qua Đông Hộ Thành Hà. Cầu này thoạt tiên được vua Gia Long cho xây vào năm 1808 và đặt tên là An Hội Kiều. Năm 1837 vua Minh Mạng đặt lại tên là Gia Hội Kiều. Cầu đã được tu sửa ba lần, lần gần nhất là vào năm 2001.

Ca nô chạy trên sông Đông Ba, nơi trước đây có những vạn đò đông đúc và ô nhiễm nay khá quang đãng và sạch sẽ. Đi trên sông, ít người nghĩ đây là sông đào vì những hàng cây ven bờ soi bóng rất tự nhiên và quyến rũ. Bên trái con sông là đường Huỳnh Thúc Kháng, bên phải là đường Bạch Đằng, hai con đường có nhiều cây cổ thụ nhất thành phố, trong đó đa số là cây lâm vồ (bồ đề ta) cây đa và cây sanh.


Xưa kia, năm 1899, khi triều đình cho phép xây ba dãy phố đầu tiên của kinh đô Huế thì con đường bên phía trái đó gọi là phố Đông Hội, nhưng dân gian thì gọi là đường Hàng Bè, có lẽ do tre, kết thành bè được bán ở đây rất nhiều. Ngày nay, đây cũng là con đường có nhiều cửa hàng bán vật liệu xây dựng. Đường Bạch Đằng hồi ấy gọi là phố Gia Hội, bắt đầu từ cầu Gia Hội đến chùa Diệu Đế và chùa Ông (nay là chùa Thuận Hóa). Phố Gia Hội lại chia làm hai phần là phố Hàng Đồng và phố Hàng Đường. Nhưng hiện nay, con đường kể từ cầu Đông Ba cũ đi về làng Thế Lại Thượng bị hư hỏng rất nhiều. Nếu đường này được tráng nhựa đàng hoàng và đình, chùa, nhà cổ trên đoạn đường này được tu sửa thì Bạch Đằng sẽ trở thành một con đường cho du khách vãn cảnh rất đẹp.

Ca nô đi ngang qua công trường xây lại cầu Đông Ba. Cầu này nằm bên ngoài cửa Đông Ba, được xây bằng gỗ năm 1808, và xây lại bằng sắt năm 1892. Cầu sắt gần đây, năm 2013, đã được tháo dỡ.

Hai bên bờ đều có những chiếc cần cẩu đang hoạt động.

Đi ngang qua cầu Thanh Long, ca nô không đi vào mà chạy tiếp xuống Bao Vinh để xem cho hết sông Đông Ba.


Đây là cầu đầu tiên dẫn vào Ngự Hà. Hồi xưa vua Gia Long cho bắc cầu gỗ, dài gần 88m, rộng hơn 3m, và đặt tên là cầu Hàm Tế. Năm 1830, vua Minh Mạng đổi tên thành Thanh Long. Cầu gỗ đã bị hư hỏng trong trận bão năm Thìn (1904) và đã được đúc lại bằng bê tông.


Người Pháp lại đặt tên cầu là Pont de l’ Attentat, tức là cầu Mai Phục vì lý do trong đêm 4-7- 1885, khi chuẩn bị cuộc khởi nghĩa đánh Pháp của vua Hàm Nghi, Thượng Thư Tôn Thất Thuyết đã bố trí một đội quân mai phục ở đây để đón đường các sĩ quan Pháp đi dự tiệc ở Tòa Khâm trở về đồn Mang Cá. Nhưng nhờ vào tin mật báo, họ không về bằng đường bộ mà gọi thuyền đi về, vòng qua cồn Hến, cho nên trận phục kích không diễn ra. Các sĩ quan về đồn an toàn và chỉ huy cuộc phản kích khiến kinh đô thất thủ và dân chúng cũng như binh lính bị quân Pháp tàn sát rất nhiều. Trong tháng vừa qua, nhiều nhà ở trong và ngoài thành nội vẫn còn cúng kỵ, tưởng nhớ những nạn nhân trong biến cố này 23 tháng 5 âm lịch này.

Phố cổ Bao Vinh ngày xưa, từ giữa thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XIX, là một thương cảng rất sầm uất giống như Hội An, do sông thời đó còn sâu, thuyền buôn từ biển đi vào có thể neo đậu ở đây. Tại phố chợ người ta xây dựng những nhà gỗ hai tầng độc đáo.

Ngày nay, tuy vẫn còn chợ Bao Vinh, nhưng nhịp sống đã chậm lại. Đa số nhà cổ với cấu kiện bằng gỗ đã biến mất. Người ta chỉ có thể phục chế vài căn, và bảo tồn một phần kiến trúc của vài căn nhà khác. Ở đây, bến đò ngang qua làng Tiên Nộn vẫn còn đưa khách sang sông.

Dấu tích xưa là một chiếc cầu cong, nối Bao Vinh với làng Địa Linh và làng La Khê.

Sau khi đi qua Bao Vinh, ca nô chạy tiếp một đoạn trước khi quay đầu và đi trở lại trên sông Đông Ba, chui qua cầu Thanh Long để tiến vào Ngự Hà.

Hai bên sông là hai pháo đài Đông Phụ và Đông Vĩnh. Mặt trước của mỗi pháo đài hướng ra sông Đông Ba có 9 pháo nhãn, tức là chỗ đặt súng đại bác để phòng thủ, mặt bên, hướng vào sông Ngự Hà, có hai pháo nhãn. Dưới chân pháo đài có đường phòng lộ, tức là đường để quân lính di chuyển, còn gọi là đường vận binh. Nhưng ngày nay người dân lấn chiếm xây nhà trên cả hai pháo đài. Đường phòng lộ dưới chân thành bị sử dùng để trồng trọt cho nên nhìn hai bên bờ sông cây cối um tùm, che khuất pháo đài.

Các thanh niên của nhóm du lãm háo hức tràn ra ngồi ở phần trước ca nô để nhìn cho rõ, và có lẽ, cũng để cảm nhận cảm giác lần đầu tiên đi bằng đường thủy, chui qua các cầu cống trên Ngự Hà.

Thông thường, hai pháo đài được nối với nhau bằng một đoạn thành thẳng. Nhưng ở đây hai pháo đài không có tường thành nối với nhau. Thay vào đó là một đoạn thành hở để nước trong thành có thể thoát ra sông Đông Ba dễ hơn. Thời Gia Long, ở đây có bắc một chiếc cầu gỗ qua sông mang tên Thanh Long Kiều. Thời Minh Mạng (1830) vua cho xây lại bằng gạch và đá, có chiều dài 68m, chiều rộng 5, 52m, bên dưới có đường thông thủy rộng 8, 40m và đặt tên là Đông Thành Thủy Quan. Thành cầu phía tây cao 1,05m, có gắn hệ thống đỡ đòn quay bằng đá thanh dùng để đóng hay mở cửa quan bên dưới. Hiện nay cấu trúc bằng đá thanh này vẫn còn. Thành cầu phía đông, hướng mặt ra bên ngoài, cao 1, 50m, có 13 pháo nhãn hình tròn, tức là lỗ châu mai để bắn súng đại bác khi cần. Nhìn trong hình có thể thấy các pháo nhãn đó trên thành cầu.

Ngày nay thủy quan này được gọi là cống Lương Y (gần đây nhà nước đặt biển gọi là cầu Lương Y) vì gần đó có Tiên Y Từ, tức là miếu thờ tổ của ngành y (hiện đã được phục dựng).

Đây là mặt phía tây của cống Lương Y (có thể thấy thành cầu thấp và hai bệ đá đỡ đòn quay thủy quan bên trên cống, thủy quan hay cửa cống nay không còn).

Nhìn sang hai bên Ngự Hà có thể thấy bên trái là đường Lê Văn Hưu, bên phải là đường Lương Y. Đường Lương Y đã giải tỏa xong nhà ven sông, đường Lê Văn Hưu vẫn còn đang phá dỡ. Đi một đoạn sông chừng 400m, ca nô rẽ thẳng góc sang phải, hướng ề phía bắc. Bên phải con sông là đường Lê Trung Đình. Có thể thấy bức tường của pháo đài. Bên trái con sông vẫn còn nhà ở, chưa mở đường được.

Khoảng 600 m đường sông thì Ngự Hà lại bẻ góc sang hướng đông-tây, bên phải con sông vẫn là đường Lê Trung Đình, bên trái việc giải tỏa nhà sát mặt sông vẫn chưa xong. Xa xa là cầu Kho. Đây là cầu trên đường Đinh Tiên Hoàng, là đường chạy từ cửa Đông Nam (Thượng Tứ) ra cửa Chánh Bắc (cửa Hậu). Thời Gia Long, năm 1808, vua cho xây cầu bằng gỗ và đặt tên là Thanh Câu Kiều. Năm 1820 vua Minh Mạng cho xây lại cầu bằng gạch và đá dài 44, 62m, rộng 5, 10m, bên dưới trổ 3 đường thông thủy dạng vòm. Cửa giữa rộng 6, 40m, cửa bên rộng 4m. Nhà vua đặt tên là cầu Ngự Hà, nhưng dân gian quen gọi là cầu Kho vì ở phía nam của cầu, triều đình đặt nhiều nhà kho như kho lúa, kho tiền, kho muối, kho than, v.v.. Hiện nay vẫn còn ngôi miếu Kinh Thương là miếu thờ thần bảo vệ cho các kho.

Trong hình là nhà cửa ở bờ trái con sông là nhà đã cắt bớt diện tích để nhường đất cho đường ven sông đang mở.

Cận cảnh hai cửa vòm thông thủy. Cửa bên nhỏ hơn cửa giữa.

Ca nô chui qua cửa giữa. Phó nhòm hướng ống kính ra sau và chụp hình mặt bên kia, mặt phía tây của cầu Kho. Đi qua khỏi cầu nhìn về bên phải có thể thấy đường Lê Trung Đình đã giải tỏa xong nhà cửa. Bờ bên trái là đường Trần Quí Cáp, chỉ có một đoạn có đường. Nhà sát bờ sông vẫn còn rất nhiều.

Ngự Hà lại bẻ góc sang hướng bắc-nam. Bên trái con sông là đường Phùng Hưng, nơi có trường đại học Nông Lâm.

Nằm kề Đại Học Nông Lâm là Đại Học Kinh Tế. Ở đoạn sông này xưa kia có cầu Bác Tế do vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1841, dài 40, 80m, rộng 2, 76m sơn màu đỏ, nằm sau lưng kho tiền cho nên dân gian gọi là cầu Son Kho Tiền. Tiếc rằng cây cầu ấy nay không còn.

Bờ bên phải là đường Trần Văn Kỷ, nơi có ký túc xá sinh viên. Cuối đường Trần Văn Kỷ, con sông bẻ góc theo hướng đông-tây trở lại.

Đằng kia là cầu Khánh Ninh, là cầu bắc từ đường Triệu Quang Phục sang đường Trần Văn Kỷ (qua cầu đi thẳng) và Ngô Thế Lân (qua cầu rẽ trái). Cầu xây năm 1825 bằng gạch và đá, chiều dài là 44, 62m, rộng 4, 33m, bên dưới có cửa thông thủy rộng 6,40m. Đầu cầu phía bắc có nhà bia, nơi dựng Khánh Ninh Kiều Bi Ký của vua Minh Mạng ghi lại việc dựng cầu. Gần đó, bên bờ bắc sông Ngự Hà có cung Khánh Ninh là một biệt cung của vua Minh Mạng nay cũng không còn. Trước 1975 có một đại đội trú đóng ở khu vực này, gần sân bay Tây Lộc tên là đại đội Hắc Báo, cho nên dân gian gọi cầu này là cống Hắc Báo.

Trên đoạn sông này xưa kia có một cầu nữa, nối từ đường Lê Huân sang đường Ngô Thế Lân, gặp cung Bảo Định, là một biệt cung của vua Thiệu Trị, nằm kề cung Khánh Ninh, do vua Thiệu Trị cho xây và đặt tên là Bình Kiều. Nhưng tiếc thay cả cung Bảo Định lẫn Bình Kiều nay không còn.

          Đi tiếp trên đoạn sông chạy theo hướng đông-tây, khách du thấy trước mặt là cống và cầu Vĩnh Lợi, là cầu nằm trên đường Nguyễn Trãi, con đường chạy từ cửa Chánh Nam (cửa Nhà Đồ) đến cửa Tây Bắc (cửa An Hòa).

Cầu được xây dựng vào năm 1825, dưới thời vua Minh Mạng, có chiều dài 44, 62m, rộng 5, 11m, bên dưới có một cửa vòm thông thủy. Trên cầu xưa kia có xây một trường lang, mái lợp ngói (gọi là thượng gia, hạ kiều) để người dân có thể trú mưa, tránh nắng. Nhưng mái ngói nay không còn.

Ca nô đang chạy qua dưới dạ cầu Vĩnh Lợi.

Đằng trước là Tây Thành Thủy Quan ở trên đường Tôn Thất Thiệp. Công trình này, giống như Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y), cũng có cầu bên trên dài 25, 75m, rộng 4, 85m, thành cầu cao 1, 05m, và cống thông thủy bên dưới rộng 6, 35m, có cửa (quan) đóng mở được. Cửa cống nay không còn nhưng vẫn còn cấu trúc đá thanh làm trụ đỡ đòn quay để đóng mở thủy quan. Cầu này không làm gián đoạn thân thành như cầu Lương Y. Đường dẫn lên cầu được xây cao dần, gọi là đường sống trâu, chạy sát vào thân thành để làm đường vận binh.


Bên trên thân thành vẫn còn lô cốt xây dựng trong thời chiến tranh chưa tháo dỡ được.

Bên trên vòm cống có ghi chữ “Thủy Quan”

Nước sông ở đây màu xanh bạc, chứng tỏ tảo lam phát triển nhiều, do sông bị ô nhiễm nặng. Dưới lòng sông có những tảng đá, có lẽ đó là những mảng tường thành do bom đạn làm vỡ rơi xuống chưa nạo vét hết. Ở đoạn này, ca nô chạy rất chậm, phải dùng sào chống để rong tảo khỏi cuốn vào máy tàu và tránh va vào đá ngầm.

Ra khỏi cống thủy quan một đoạn ngắn, ca nô chui bên dưới gầm một cây cầu nằm trên quốc lộ 1, gọi là cầu Thủy Quan. Cầu này nằm hơi lệch về phía nam so với Tây Thành Thủy Quan. Ngày xưa đây là cầu Hoằng Tế, xây bằng gạch và đá, nay đã bị sập và xây lại bằng bê tông.
Trước mặt, cách cầu đường bộ khoảng 15m có cầu đường sắt xây vào khoảng năm 1908.

Do không nằm trên một đường thẳng với Tây Thành Thủy Quan nên khi nhìn lại sau lưng du khách thấy một đoạn tường thành.

Đi qua dưới gầm cầu xe lửa, ca nô gặp Tây Hộ Thành Hà , tức là sông Kẻ Vạn và rẽ trái theo hướng bắc-nam.

Du khách ngoái đầu nhìn lui để thấy rõ cầu xe lửa.

Sông Kẻ Vạn đục ngầu. Hai bên bờ cây cối um tùm, tàn cây đổ ra gần chạm mặt sông trông rất hoang dã. Nhà dân trên bờ trông cũng khá lụp xụp.


Rõ ràng là đoạn sông này chưa được nạo vét và bờ sông chưa được chỉnh trang.

Đằng xa là chiếc cầu nhỏ chạy từ đường sắt xe lửa (bên kia đường sắt và quốc lộ 1 là cửa Hữu) sang chợ, gặp đường Vạn Xuân, rồi đi tiếp tới đường Phạm Thị Liên.

Trên sông này có nhiều đò chở cát sạn neo đậu.

Một chiếc tàu hút cát rất lớn đang nằm “nghỉ” ở đây.

Đầu sông Kẻ Vạn giáp với sông Hương là cầu Kim Long và xa xa là cầu và cồn Dã Viên. Qua khỏi gầm cầu, ca nô tăng tốc chạy trên sông Hương lộng gió.


Do rong chơi chưa chán nên nhóm “ta bà” cho ca nô chạy lên thăm chùa Thiên Mụ để ngắm trời nước trong xanh và thưởng thức vẻ đẹp của một công trình kiến trúc 400 năm (xây năm 1601) độc đáo của nền văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân trước khi trở về bến đò số 5 Lê Lợi.
Tóm lại có thể thấy ở Ngự Hà một con sông được con người uốn nắn, chỉnh trị, phục vụ cho nhiều mục đích, vừa là đường giao thông thủy, bộ, vừa là nguồn cấp và thoát nước, vừa tạo cảnh quan để dạo chơi, nhàn lãm. Chỉ trên một con sông dài chưa đến 3,5 km triều đình đã cho xây tới 10 cây cầu và cống cho nên ngay trong thời hiện đại, với lượng xe cộ đông hơn xưa gấp nhiều lần, giao thông giữa hai bờ bắc nam sông Ngự Hà chưa bao giờ bị ùn tắc. Ngày nay còn lại 8 cầu, với kiến trúc hài hòa với cung điện trong hoàng thành, vừa có dáng thanh thoát, tạo vẻ mỹ quan cho kinh thành, mà lại khá bền vững vì qua gần 200 năm vẫn còn giá trị sử dụng.

Ngoài ra, Ngự Hà lại còn có nhiều cống ngầm thông với các hồ ở trong thành và các sông đào (Hộ Thành Hà) ở ngoài thành, tạo thành một hệ thống cấp thoát nước rất tinh vi, hiệu quả. Trước năm 1945 chưa có tài liệu nào mô tả việc ngập úng và ô nhiễm trong hoàng thành như ngày nay.

Có lẽ, thế hệ chủ nhân của thành phố ngày nay cần suy nghĩ và làm việc nhiều hơn để xứng đáng thừa hưởng di sản của người xưa – những vị vua và quan đã xây dựng và quản lý kinh thành Huế một cách thông minh, sáng tạo, và tao nhã.

Trần Ngọc Bảo
(Theo Chim Việt cành Nam)

Similar Articles

Ráng chiều Đá Bạc

Ráng chiều Đá Bạc

Bình yên Đá Bạc. Ảnh: TUẤN KIỆT Khi cuối tầm mắt hiện lên một đoạn đèo uốn

Hai cửa vòm ở Đông Thành Thủy Quan là cửa đặt đại pháo

Hai cửa vòm ở Đông Thành Thủy Quan là cửa đặt đại pháo

Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cho biết, qua nghiên cứu các

Chín ngọn núi đúc trên cửu đỉnh Huế

Chín ngọn núi đúc trên cửu đỉnh Huế

Ở mỗi đỉnh trong số 9 cái đỉnh dựng ở trước Thế Miếu Huế có

Thành phố sông Hương

Thành phố sông Hương

1. Năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chuyển phủ từ Phước Yên vào Kim

Mời bạn chọn Huế đồng hành trong những chuyến đi

Mời bạn chọn Huế đồng hành trong những chuyến đi

Bạn biết gì về xứ Huế quê tôi? Cảnh vật tuyệt sắc, con người cùng

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose