Văn hóa Huế | Homepage

Hình bóng quê nhà

🕔15.Sep 2017
Hồi nhỏ tôi hay hỏi ba làng mình chỗ mô là đầu là cuối? Ba tôi không trả lời được, vì làng không có cái cổng để xác định. Không gian của làng thoáng đãng và gần gũi. Ranh giới giữa làng tôi với các làng lân cận chỉ là con khe nước chảy quanh năm hay một con đường đất be bé; các xóm trong làng liền kề. Vườn tược nhà cửa cũng chỉ ngăn cách bằng mấy bụi tre bụi hóp hay mấy hàng chè tàu thấp lè tè có thể bước qua bước lại dễ dàng…

Tôi nhớ câu chuyện về mụ Bà. Làng tôi với làng dưới đặt một cục đá to làm ranh giới hạn điền. Mụ Bà là con gái làng tôi về làm dâu làng dưới. Những buổi chợ tan trên đường từ làng mình về nhà chồng, mụ Bà lận cục đá vào lưng quần, dùng hết sức kéo đi một đoạn. Cứ như thế qua mấy lần, mụ Bà đã lần được cục đá đi khá dài để làng mình được thêm mấy chục mẫu ruộng. Nghe nói mụ Bà chấm dứt chuyện kéo đá là do bị đứt lưng quần không thì làng tôi đã có thêm nhiều ruộng nữa. Bây chừ, ngay ở chỗ mụ đứt lưng quần làng lập một cái am thờ mụ Bà hương khói quanh năm.Cái bến nước cạnh đó cũng được đặt tên là bến Am. Chỉ tiếc là cái cục đá to ngày xưa không biết ai đã mang đi đâu mất…

“Thứ nhứt mả đá mả đe, thứ nhì bàu Cạn, thứ ba truông Đình”. Làng có câu ca như vậy để chỉ 3 nơi linh thiêng nhất mà theo lời của các cụ là nơi có nhiều hồn ma. Bàu Cạn ở ngay độn cát thẳng với xóm tôi, cứ lên độn đi khoảng một cây số là tới. Gọi là bàu Cạn vì ở đây mùa mưa mới có nước, còn mùa hè là một bãi cỏ xanh rì chung quanh những lùm cây rậm rạp. Thuở nhỏ mạ vẫn hay dặn mấy anh em tôi: “Lên độn chơi mấy con không được tới bàu Cạn!” Nghe lời mạ tôi cũng sờ sợ, nhưng khi có dăm bảy đứa trong xóm cùng đi chơi thì cả lũ chúng tôi quên hết lời mạ dặn mà lên bàu Cạn vui đùa.

Do ít người lui tới nên bàu Cạn là địa điểm lý tưởng của nhiều loài chim trời. Những loài chim lớn tôi không biết tên thỉnh thoảng vụt lên sải cánh kiêu hãnh từ các bụi rậm; rồi những loài chim thân thiết như chào mào, chàng làng, chìa lơi, vành khuyên làm tổ rất nhiều trong các bụi cây. Nói chung đến đó chẳng thấy bóng ma mà chỉ nghe tiếng chim rất vui tai. Mả đá mả đe là một cái mộ rất lạ được đúc bằng một loại đá cứng trên độn Cao. Người già nhất của làng cũng không biết là của ai để lại; có người nói mả của người Chiêm Thành xưa, có người lại nói là của người Minh Hương đầu tiên về sinh sống và buôn bán ở chợ Đại Lược. Những năm đói kém, có lần đám thanh niên trong làng dùng cúp, búa lên đào mả với hy vọng tìm được vàng bạc châu báu. Lạ thay chiếc cúp nào chạm vô ngôi mộ đều gãy cáng, rồi có người đang hành sự thì bụng đau dữ dội phải thắp hương cầu khấn mới hết. Kể từ đó không ai dám nghĩ đến chuyện đào mộ tìm vàng nữa. Còn truông Đình là nơi thờ âm hồn làng. Hồi nhỏ tôi cũng từng đến đó mấy lần và khi mô cũng có cảm giác rờn rợn…

Tôi chưa nghe kể chợ Đại Lược của quê tôi được ra đời từ  năm nào nhưng trong lịch sử tồn tại và phát triển của ngôi chợ quê tăm tiếng nhất vùng quê này đã có hơn chục hộ gia đình người Minh Hương về đây sinh sống và buôn bán. Có lẽ chợ Đại Lược trở thành một chợ nông thôn nổi tiếng nhất vùng ven biển phía Bắc TT Huế cũng nhờ vào tài buôn bán của những người Minh Hương đã ngụ cư một thời.Nghe đâu từ những năm 1950 của thế kỷ trước, chợ Đại Lược đã có người mở quán bán cà phê buổi sáng và khá là đông khách… Thời gian và những biến cố thời cuộc đã khiến những người Minh Hương lần lượt bỏ chợ mà đi. Người Minh Hương cuối cùng rời chợ Đại Lược lại là một thầy giáo, thầy Hàn Chánh Toàn.Thầy cũng là con rể của làng tôi, nên phải đến những năm đầu thập kỷ 1980 ông mới đưa vợ con dứt áo ra đi khi mà việc buôn bán trở nên quá khó khăn…

Bây chừ chợ Đại Lược đã được xây dựng ở một vị trí mới  ngay bên cạnh con đường dẫn từ cầu Hòa Xuân bắc qua sông Ô Lâu. Vị trí đó cũng khá  hợp lý để phát triển chợ. Khu chợ ngày xưa trở thành khu dân cư, dấu tích còn lại là ngôi đình chợ rêu phong tồn tại hàng trăm năm và mấy cây vông đồng sần sùi vết tích thời gian.

Cây vông đồng  đứng tỏa bóng ở giữa làng, ngay đầu ngã ba xóm Đình giữa làng tôi. Nó đứng đó từ khi mô thì cũng chẳng ai biết. Chỉ biết là khi nhắc đến làng tôi thì người ta nhớ đến chợ, đến bến đò và cây vông đồng này…Về làng, ngang qua xóm cây vông đồng tự nhiên hơi sững lại khi thấy  thân cây già chừ đứng gần như ở giữa đường đi. Tất nhiên không ai dám và cũng không ai nỡ đốn hạ một “ cụ cây” như thế, nên đường phải nắn cong một chút. Và cũng hơi buồn khi thấy cây vông đồng đã già thiệt rồi khi lá và cành đã trơ trụi hẳn chứ không còn sum suê tỏa bóng mát như trước.Xóm cây vông đồng có tên là xóm Đình vì ở đó có đàn âm hồn làng cúng tế xuân thu nhị kỳ. Xóm Đình cũng là xóm dân cư đông đúc, lại có nhiều gia đình giàu có. Thằng Quang học cùng lớp, mồ côi cha nhà nghèo nhất xóm Đình. Nó nghèo nhưng nhà lại ở gần mấy nhà giàu có nên nó thường lên lớp kể mấy chuyện mà nó nói là đã nghe, đã thấy. Như chuyện một ông nhà giàu hàng xóm có một đàn heo bằng vàng, gồm một con heo mạ(mẹ) và 10 con heo con. Nó thấy được là vì thỉnh thoảng ông đem đàn heo vàng ra giếng tắm. Lũ con nít lớp tôi nghe bán tín bán nghi bởi vì hồi nớ thấy ai mang chiếc nhẫn vàng trên tay cũng đã là “ quý tộc làng” rồi huống chi là cả một bầy heo vàng…Ngay dưới gốc cây vông đồng có quán hớt tóc của chú Giai.Thỉnh thoảng ba tôi vẫn dắt mấy anh em xuống quán chú Giai cắt tóc. Chú Giai một tay bị tật từ nhỏ nhưng vẫn là thợ cắt tóc giỏi, lại hiền lành, kể chuyện có duyên nên cũng khá nhiều khách. Sau này, quanh cây vông còn có quán bán hàng xén, quán sửa xe đạp và là nơi nghỉ chân của mấy bác nông dân, mấy o hàng xáo…

Lại nhớ mỗi lần đi đò dọc từ Huế về làng, khi đò đi vào cửa sông Ô Lâu đã thấy bóng cây vông đồng, rứa là biết đã về tới bến đò xóm Chợ để đi bộ nhà. Chuyến đò dọc hàng ngày trên sông chừ đã không còn khi hệ thống đường bộ đã hoàn thiện nên bến đò xưa bây chừ đã được thay thế thành một cánh đồng sen nở thật đẹp. Chợ Đại Lược mới cũng đã được xây dựng khang trang chứ không còn những hàng quán tranh tre lẹp xẹp mà gần gũi như trước.Mới ngày nào cây vông đồng là cả một vòm xanh cao để bao người vọng về quê chừ cũng đã già nua trơ cành, trụi lá thiệt rồi…

                Thanh An
(Theo TRT)

 

Similar Articles

Khoai nướng mỡ hành

Khoai nướng mỡ hành

Khoai lang nướng vỏ xem xém cháy, bẻ miếng khoai vẫn còn bốc khói, tươm

Hương Thọ xanh mãi một màu nước mây

Hương Thọ xanh mãi một màu nước mây

Thuở bé, mỗi lần đứng trước chiếc tủ gỗ sơn màu xanh ngọc khiêm tốn

Làng nghề nón lá Thanh Tân

Làng nghề nón lá Thanh Tân

Làng Thanh Tân thuộc xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là

Quá trình hình thành của Viện Đại học Huế và Đại học Y khoa Huế

Quá trình hình thành của Viện Đại học Huế và Đại học Y khoa Huế

Trích hồi kỳ Bên dòng lịch sử của cố Giáo sư Linh mục Cao Văn

Những người bạn chăn trâu

Những người bạn chăn trâu

Hồi trước, khi làng xã tôi còn đoàn đội tập thể hay hợp tác xã

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose