Văn hóa Huế | Homepage

Câu chuyện phía sau một tấm ảnh

🕔01.Nov 2019

Chiều 1-11-1999, một nhóm sinh viên mỹ thuật đạp xe sang chỗ tôi mời dự khai trương studio vào sáng sớm hôm sau. Tôi mời cả hai ở lại ăn cơm, đang ăn thì trời đổ mưa, cơn mưa sầm sập như dội nước. Nhà xa, tự thấy không thể chạy xe về nên quyết định ở lại luôn văn phòng báo Sinh Viên VN tại Huế, lúc đó do tôi phụ trách.

Không ngờ quyết định đó lại khiến tôi gần như trở thành phóng viên duy nhất theo dõi trọn vẹn trận lụt trăm năm ở Huế. Và tôi đã tác chiến cho Tuổi Trẻ như một phóng viên Tuổi Trẻ sau một cú điện thoại.

Tìm đường kết nối

Sáng sớm ngày 2 nước đã tràn qua công viên bờ nam sông Hương, ngập đường Lê Lợi. Đến khoảng 9g sáng, sông Hương và sông An Cựu đã nối với nhau bằng nước. Điện bị cắt toàn bộ.

Vừa đẩy chiếc xe máy lên bàn làm việc và dùng dây buộc báo cột neo lại, anh Minh Đức, phó tổng thư ký tòa soạn lúc bấy giờ của Tuổi Trẻ, gọi.

Tôi hỏi sao anh biết số, anh bảo: “Lê Đức Dục cho số. Dục đã cho con vào thau nhựa, di tản khỏi khu tập thể ở thị xã Quảng Trị, từ giờ chắc khó thông tin bài vở. Ông xem thuê một chiếc ghe, chạy vòng quanh Huế rồi báo cho tui tình hình qua điện thoại lúc 5g chiều nay được không?”.

Tôi kể sơ qua tình hình hiện tại ở Huế. Điện đã bị cắt. Là người làm tòa soạn, anh Minh Đức rất cụ thể: “Từ giờ ông tháo cục pin điện thoại ra đi để tiết kiệm pin, đúng 5g lắp vào bật máy tôi sẽ gọi nha”.

Tôi mặc quần cộc lội ra phía chợ Bến Ngự thuê ghe nhưng chẳng ai chịu cho thuê. Có người còn bảo đồ điên à. Tất cả đang hối hả chạy ghe ngược lên neo ở dốc Bến Ngự, Nam Giao. Nước vẫn cuồn cuộn, đỏ ngầu và trời vẫn đổ mưa rất lớn. Tôi hiểu có điều gì rất khác trong trận lụt này.

Lại gọi ngược lại cho Minh Đức, anh có vẻ thất vọng, ngẫm nghĩ một lúc lại nói: “Thôi ông cứ ở đó miêu tả tình hình, rồi chiều đọc qua điện thoại cho tôi cũng được”.

Ngồi loay hoay trong gần một giờ với cái bụng đói, tôi bắt đầu nghĩ cách gọi điện hú họa sang báo Thừa Thiên – Huế. Tổng biên tập, ông Đoàn Ngọc Phú, đang trực bảo tôi hay là… lội qua tòa soạn xem sao.

Lội sang đến nơi tôi càng thất vọng vì mọi người vẫn ngồi đấy, lúng túng với tình huống mất liên lạc. Tôi quyết định tiếp tục gọi cho anh Trần Đăng Dũng, chỉ huy trưởng biên phòng, anh bảo: “Ở đâu?”. Tôi nói: “Đang Bến Ngự”. Anh Dũng: “Thế gay rồi, đang lập sở chỉ huy ở tầng hai tòa nhà Bưu điện Huế. Từ Bến Ngự không thể lội xuống đây được. Nước sâu lắm”.

Tôi cho ít giấy, máy ảnh, vài cây viết… vào túi nilông rồi rủ Thanh Ngọc, lúc đó đang là phóng viên của báo Thừa Thiên – Huế (nay là tổng biên tập tạp chí Sông Hương), lội bộ xem sao.

Ra khỏi cổng được khoảng 400m, Ngọc phải quay lại vì vóc dáng thấp bé, nước đã ngập đến mũi, lại chảy xiết. Tôi quyết định đi một mình bằng cách đu theo hàng rào sắt lần từng đoạn.

Phan Bội Châu, Nguyễn Huệ, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Hoàng Hoa Thám… tuyến đường nào cũng ngập ngang ngực hoặc lút đầu người. Ngang qua cổng đài truyền hình trên đường Ngô Quyền, một người đàn ông đứng trên gác hai căn nhà tập thể nhìn tôi la lớn: “Mi đi mô đó? Có điên không đó?”. Thì ra là ông Phước, giám đốc Công ty In thống kê – bao bì.

Tôi nói đi đến bưu điện và hỏi mượn ông một chiếc điện thoại di động khi nghe ông nói: “Tau đang có hai cái”. Nhưng ông không cho mượn mà lại hỏi… xin tôi một cuộn phim để chụp lại nhà xưởng công ty gần đó đang ngập nước.

Giấy, bút, pin điện thoại, máy ảnh và phim giờ là thứ không thể cho mượn được đâu ông ơi.

Những chiếc quan tài đóng vội xếp dãy ở thềm bia Quốc học để kịp mai táng những nạn nhân lũ lụt trôi về bờ nam sông Hương - Ảnh: LÊ THANH HÀ
Những chiếc quan tài đóng vội xếp dãy ở thềm bia Quốc học để kịp mai táng những nạn nhân lũ lụt trôi về bờ nam sông Hương – Ảnh: LÊ THANH HÀ
Một trận lở đất ở bắc thị trấn Phú Lộc đã cuốn và chôn vùi nhiều người. Người dân thắp hương tưởng niệm nạn nhân trên nền đất còn vương rất nhiều đồ đạc - Ảnh: LÊ THANH HÀ
Một trận lở đất ở bắc thị trấn Phú Lộc đã cuốn và chôn vùi nhiều người. Người dân thắp hương tưởng niệm nạn nhân trên nền đất còn vương rất nhiều đồ đạc – Ảnh: LÊ THANH HÀ

Mã vùng Đà Nẵng

3g chiều mới tới được bưu điện, thấy xe lội nước đang đậu trước sân. Một dì nuôi quân nhìn tôi trân trân rồi đi pha một bát cháo ăn liền, nói: “Tội nghiệp, ăn đi đã con”.

Nước ngập hết tầng một của Trung tâm điện báo – điện thoại, máy móc tổng đài điện tử phải tháo, di chuyển. Tầng hai lúc đó là một lò lửa. Ổ cắm điện từ máy nổ chi chít bộ sạc pin. Mặc kệ, tôi tháo đại một cái sạc của ai đó và cắm của mình vào.

Lúc này đường truyền, đường liên lạc là vấn đề quyết định. Nghĩ vậy nên tôi đi tìm anh Hải, trưởng phòng công nghệ thông tin (nay là đại diện Microsoft ở TP.HCM), hỏi. Hải nói: “Bọn mình đang nghĩ có lẽ sẽ móc một sợi cáp quang, dùng tổng đài theo mã vùng của Đà Nẵng sẽ xử lý được”.

Ngồi lặng trong sở chỉ huy tạm một lúc lâu, sau khi tôi trở thành người lạ chứng kiến phiên họp đầu tiên của sở chỉ huy ứng cứu.

Ông Phan Thế Kháng, phó chủ tịch UBND TP Huế, đứng khóc ngon lành, nghẹn ngào không báo cáo tiếp được con số người chết ở phường Phú Hiệp, Phú Cát, vùng thấp trũng của Huế đang ngập sâu dưới vài mét nước.

Ông Nguyễn Văn Mễ, chủ tịch UBND tỉnh, ngồi yên nhìn ông Kháng rồi nhìn mọi người, dường như cũng muốn khóc.

Trận lũ quá nặng. Có nơi ngập đến 6m nước. Thông tin con số người chết, mất tích từ các địa phương báo về cứ tăng từ hàng chục đến hàng trăm.

Tôi ngồi viết những dòng đầu tiên gửi về Tuổi Trẻ, tờ báo duy nhất có đầu mối thông tin lúc đó ở Huế, bên cạnh chiếc máy fax vừa lắp tạm. Cuối giờ chiều, những dòng tin đầu tiên được truyền đi từ Huế nhưng mang mã vùng Đà Nẵng.

Đêm đó tôi ngồi trong dồn dập tiếng chuông réo của những cuộc điện thoại gọi về sở chỉ huy. Có cán bộ xã từ vùng Phong Hòa, Phong Bình phải chèo ghe qua sông Ô Lâu để gọi ngược điện thoại từ vùng Hải Lăng, Quảng Trị, nơi tổng đài còn hoạt động, vào Huế, lúc bấy giờ số ở Huế mang mã vùng 043 của Đà Nẵng.

1g sáng, tôi ngồi viết bài tường thuật thứ hai, thỉnh thoảng lại nghe điện thoại giúp cho ông chủ tịch Mễ lúc bấy giờ gần như kiệt sức nằm luôn xuống sàn, chợp mắt trong chốc lát.

Những cuộc điện thoại chỉ để báo cáo về số người chết. Ngày 3, ngày 4 rồi ngày 5, Huế đã có 234 người chết, trong đó 194 người tìm được thi thể. Đại nội trở thành hồ nước.

Những cây thông trăm tuổi ở lăng Minh Mạng bị trốc gốc, gãy đổ. Eo Hòa Duân bị nước xé vỡ thành cửa biển, cuốn trôi cả một chiếc tàu và một sĩ quan biên phòng đang trực chiến. Ven sông Hương, nhiều làng và khu dân cư, trường học bị cô lập. Đói và rét.

Lần đầu tiên trong một trận thiên tai, trung ương quyết định lập sở chỉ huy tiền phương ở Vinh do thiếu tướng Lê Hải Anh, phó tổng tham mưu trưởng, chỉ huy. Nhưng cả trực thăng lẫn đoàn xe chuyên dụng chuyển quân vẫn chưa vào được đến Huế.

Gần sáng khi gửi xong bài thứ hai, tôi quyết định bằng mọi cách phải đến các vùng ngập lụt nặng. Lại gọi anh Trần Đăng Dũng, và anh Dũng kết nối tôi cùng trung tá Đơn, tham mưu phó Bộ đội biên phòng Thừa Thiên – Huế…

… Rất lạnh lùng, trung tá Đơn nhất định không cho tôi lên canô (vì ai cũng có áo phao, tôi đến sau ngoài kế hoạch nên không có). Không thể ngồi đây chờ đợi hay năn nỉ, tôi liền nói ba tôi cũng là sĩ quan biên phòng, đã mất cách đây mấy năm.

Trung tá Đơn chợt sững lại: “Vậy mi là con của thủ trưởng T. à. Thôi được rồi, rứa mi lên đi…”.

Nhiều năm đã trôi qua. Có chuyện còn nhớ, có chuyện bạn bè nhớ dùm. Nhưng riêng chuyến đi vào vùng lũ hôm đó, không thể nào tôi quên.

Đây là bức ảnh của anh Lê Thanh Hà đăng trang nhất Tuổi Trẻ ngày 6-11-1999 nhưng lại được ghi tác giả là... tiệm Internet - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ
Đây là bức ảnh của anh Lê Thanh Hà đăng trang nhất Tuổi Trẻ ngày 6-11-1999 nhưng lại được ghi tác giả là… tiệm Internet – Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ

Hình ảnh không quên

Người dân ở Lương Quán gọi xin dầu hỏa để thắp đèn bên thi thể người thân đang bó chăn chiếu nằm trên ghế băng cho người chết đỡ tủi.

Một người chồng ngồi thẫn thờ trên mái nhà, bên cạnh người vợ đang cuộn trong chiếc áo nilông xanh.

Cụ già nơi bến Tuần đứng trong nước ngập bóc ngay mì gói ăn sống vì quá đói.

Hai hàng quan tài gỗ thông vàng nhức nhối quàn trước bia Quốc học.

Rồi khi tốp bộ đội đầu tiên tập kết trước đường băng Phú Bài, người chỉ huy gầy khắc khổ gọi một trung đội bước lên phía trước và nói khẽ: “Trích xuất một trung đội, giao nhiệm vụ cưa xẻ gỗ, cấp tốc đóng quan tài để mai táng người dân chết lụt”. Cả trung đội đáp: “Rõ!”.

Gương mặt những người lính nhòe nhoẹt nước mắt.

Trận lụt trăm năm, giờ nhắc lại vẫn buồn vô cùng. Nó cũng đã thành một “biến cố”, thêm vào bản sớ đọc trong cúng tế ở Huế bây giờ…

…Tôi nhớ lúc đó, để hỗ trợ Huế, Tuổi Trẻ đã chi viện hai nhóm phóng viên. Mũi từ tòa soạn Sài Gòn cử ra có anh Nguyễn Công Thành và Cù Mai Công. Mũi phía Hà Nội do anh Bùi Thanh cử vào có Đà Trang và Việt Dũng. Sau đó thêm Minh Tự (bị mắc kẹt ở A Lưới mấy ngày khi tham gia đoàn công tác của phó chủ tịch tỉnh Lê Văn Hoàng) bám theo trực thăng cứu hộ về lại thành phố.

Hai cái lạy

Sau vài ngày chỉ fax tin không có ảnh, khi đường điện thoại cố định được khôi phục cục bộ, chúng tôi nghĩ cách làm ảnh để truyền về tòa soạn. Khi đi ngược sông Hương cùng canô của lực lượng cứu hộ biên phòng, tôi có mang theo hai máy ảnh nhưng đều là máy ảnh chụp bằng phim.

Muốn có ảnh phải tráng phim, rửa ảnh, nhưng tất cả minilab ở Huế đều bị ngập nước, thiết bị hư hỏng. Đà Trang nói trong số nhà báo “đu càng” trực thăng vào Huế có anh Ngọc Trường ở Thông tấn xã VN mang theo máy scan phim. Đó là thiết bị “hàng khủng” lúc bấy giờ với dân làm báo.

Thông tấn xã VN mới mua nó để chuẩn bị tác chiến ở SEA Games, không ngờ được trưng dụng vào trận lũ Huế.

Như vậy vấn đề còn lại là tráng phim. Ai tráng, thuốc đâu, buồng tối đâu mà tráng phim bây giờ? Tôi nhớ ra anh Đặng Việt Hùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Huế. Nhà anh Hùng ở vùng Phủ Cam, là vùng không bị ngập nước.

Anh Hùng nhận lời và nói sẽ cùng anh Sơn (cũng là một người chơi ảnh) tráng phim, chỉ được đen trắng thôi. Nhưng anh cũng thành thật khuyên tôi: “Những cuộn phim của Hà chụp rất quý, không ai có. Giờ tráng thủ công là năm ăn năm thua, nếu cháy phim thì anh cũng tiếc”. Nhưng rồi tôi quyết định mạo hiểm.

Ngồi ở tầng hai tòa nhà VTV Huế cạnh công viên, Đà Trang và tôi hì hục viết, vừa viết vừa nôn nao. Sẩm tối, anh Hùng xuất hiện ở cửa, tay cầm cuộn phim vừa tráng, giơ lên gọi: “Hà, Hà, ngon rồi, ngon rồi…”.

Tôi đứng lên, chắp tay nói em lạy anh hai lạy để thay lời cảm ơn. Anh Hùng đứng sững người ngay trước cửa phòng.

Chúng tôi vội mở phim ra soi dưới ánh đèn. Cuộn phim vẫn còn dính vì chưa kịp khô hẳn. Những hình ảnh trong từng khổ phim đen trắng khiến cả hai chúng tôi xúc động đến chết lặng. “Đi thôi”- cả hai quyết định kết luôn bài viết đang dang dở, đóng máy tính và đi tìm anh Ngọc Trường.

Chúng tôi hiểu rằng mọi chữ nghĩa lúc này là dư thừa so với hình ảnh. Đây sẽ là những bức ảnh lịch sử về một trận lũ lịch sử!

Hai thằng hộc tốc ngược lên nhà khách của tỉnh, nhờ máy scan phim của anh Ngọc Trường ở Thông tấn xã VN. Anh Trường scan giúp. Hỏng liên tục. Rồi cuối cùng cũng được một tấm.

Nhìn ảnh trên máy tính, anh Ngọc Trường nói: “Thôi để Thông tấn xã phát nhé, Tuổi Trẻ xài sau…”. Dĩ nhiên là chúng tôi lắc đầu. Không được đâu ông ơi!

Tấm ảnh lịch sử

Đà Trang rút điện thoại gọi về tòa soạn, lúc ấy tổng thư ký Lưu Đình Triều đang trực: “Gắng đợi nhé các anh…”. Chúng tôi copy file vào đĩa mềm, chạy ra chỗ dịch vụ Internet Nhật Hải, gần như duy nhất ở Huế.

Lúc ấy kết nối Internet bằng cách “thủ công” dial-up 1269. Truyền một tấm ảnh mất hàng giờ đồng hồ, mà chẳng biết nơi cần nhận có nhận được không…

Liên tục điện thoại trao đổi với “tổng hành dinh”, chúng tôi biết cả tòa soạn đang nóng lòng. Nội dung bài vở đã xong, trang nhất “đục sẵn một lỗ” đợi ảnh hiện trường.

Gần như cả tờ báo chỉ chờ tấm ảnh này là “bay” thẳng tới nhà in. “Có thể chậm công đoạn in, nhưng kiểu gì tòa soạn cũng phải chờ” – cả phóng viên hiện trường lẫn tòa soạn thống nhất như vậy.

Truyền ảnh xong, đã rất khuya, nghe điện của tổng thư ký Lưu Đình Triều, hai anh em thở phào. Cả đêm thao thức chỉ mong trời mau sáng. Báo ra, Tuổi Trẻ là tờ báo đầu tiên có ảnh từ vùng lũ Huế. Một tấm ảnh lịch sử. Tác giả: Nhật Hải. Trời, đó là cái tên email của tiệm Internet Nhật Hải!

Đến khi gặp anh Nguyễn Công Thành, nhìn anh lôi ra chiếc máy ảnh kỹ thuật số và hỏi chỗ kết nối Internet để truyền ảnh về tòa soạn, tôi nói: “Anh đến sớm hơn thì đỡ khổ cho tui biết bao nhiêu”.

Những ngày sau đó, khâu ảnh cho tòa soạn coi như đã được giải quyết. Trong trận lũ lịch sử 1999 ở Huế, Tuổi Trẻ là tờ báo đầu tiên có phóng viên sử dụng máy ảnh kỹ thuật số (dù lúc đó còn dùng đĩa mềm) và truyền ảnh về tòa soạn qua kết nối Internet. Kể từ đó, cách tác nghiệp, đưa tin, truyền ảnh thời sự trên Tuổi Trẻ đã chuyển sang một thời kỳ rất khác. Cách làm này sau đó lan rộng ra với nhiều tòa soạn báo khác, đến mức độ gần như phổ biến như ngày nay chúng ta thấy.

Tôi nghĩ một biến cố thiên tai, hay bất kỳ trường hợp biến cố nào tương tự, đôi khi cũng là “vận may” cho những tòa soạn báo và phóng viên đưa tin nâng tầm kỹ năng tác nghiệp.

Điều quan trọng nằm ở thái độ tiếp cận thông tin và ý thức trách nhiệm, rằng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải truyền được thông tin (hay đúng hơn là sự thật) sớm, mới, trung thực và lay động đến bạn đọc, những người mua báo mỗi ngày.

Tuổi Trẻ trong những ngày lụt Huế thể hiện rất rõ tinh thần ấy. Mong Tuổi Trẻ và những người làm Tuổi Trẻ sẽ luôn như vậy.

Trang nhất Tuổi Trẻ với những hình ảnh đầu tiên về trận lũ lịch sử năm 1999 ở miền Trung, do phóng viên Kim Em thực hiện
Trang nhất Tuổi Trẻ với những hình ảnh đầu tiên về trận lũ lịch sử năm 1999 ở miền Trung, do phóng viên Kim Em thực hiện

Cũng trong trận lũ dữ này, ở Đà Nẵng có một nữ phóng viên xông pha ngày đêm để truyền tin tức và hình ảnh từ những vùng bị nạn về tòa soạn Tuổi Trẻ. Cô ấy là một phóng viên của báo Đà Nẵng, nhưng đang cộng tác với báo Tuổi Trẻ.

…Khi thành phố ban bố thông báo khẩn cấp vào lúc sáng sớm, nữ phóng viên này liền tức tốc rời khỏi nhà, để lại hai con nhỏ ở nhà (đứa bé còn bú mẹ). Chị lội bộ đến văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ, lúc đó ở số 16 Trần Quốc Toản, rồi tiếp tục lội bộ ra ga Đà Nẵng, lúc đó đang bắt đầu kẹt cứng hành khách vì đường sắt bị đứt.

Từ văn phòng đến ga chỉ hơn 3km nhưng chị phải lội nước 4 tiếng đồng hồ mới đến nơi vì nước lũ bắt đầu dâng cao, có đoạn dâng cao ngang bụng. Tác nghiệp xong, chị lại lội bộ tiếp đến trụ sở Ban chỉ huy phòng chống lụt bão TP, nhảy lên xe lội nước của quân đội ra cầu Đỏ, rồi nhảy xuống canô Công an Đà Nẵng để vào được rốn lũ Hòa Vang…

Rạng sáng chị mới về đến nhà sau khi làm xong phận sự. Kiệt sức, nhưng chị vẫn chuẩn bị cho chuyến đi cứu trợ vùng rốn lũ ngay sáng đó.

Không thể có trang nhất ấn tượng trên Tuổi Trẻ ngày 4-11-1999 nếu không có sự nỗ lực hết mình của nữ cộng tác viên này, với những hình ảnh đầu tiên về trận lũ lịch sử được ký với bút danh: Kim Em.

Nay chị Kim Em là trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Đà Nẵng.

Lê Thanh Hà (Phó TBT Báo Sinh viên VN)
(Theo Tuổi trẻ)

Similar Articles

20 năm “đại hồng thủy” 1999 – Những bài học sâu sắc về phòng chống thiên tai

20 năm “đại hồng thủy” 1999 – Những bài học sâu sắc về phòng chống thiên tai

Trận lũ lụt đã làm cho 373 người chết và mất tích; 94 người bị

20 năm lụt 1999: Chuyện cũ không quên, bài học mãi còn

20 năm lụt 1999: Chuyện cũ không quên, bài học mãi còn

Gắn với trận lũ lụt 1999 là những con số thiệt hại biết nói, là

Chậm của Huế…

Chậm của Huế…

Yên tĩnh. Chậm rãi. Không vồn vã, chẳng bon chen. Một vài thuộc tính làm

Quá trình hình thành của Viện Đại học Huế và Đại học Y khoa Huế

Quá trình hình thành của Viện Đại học Huế và Đại học Y khoa Huế

Trích hồi kỳ Bên dòng lịch sử của cố Giáo sư Linh mục Cao Văn

Du lịch “nước Huế”

Du lịch “nước Huế”

“Phong cảnh, di tích, ẩm thực - đó là những thứ đặc sản nổi tiếng

DSC_4190

Tìm kiếm

Danh mục

Có thể bạn quan tâmclose