Văn hóa Huế | Homepage

Làng xưa, cảnh mới

🕔15.Jun 2021

Đi ra khỏi từ đường họ Tống Phước, nếu đi tiếp con đường Hàn Mặc Tử ta sẽ gặp xóm An Bình. Xóm này là do ấp An Tân ghép với làng Bình Lục. Đi đến hẽm số 131 rẽ trái và đi khoảng 70m là ra đình làng Bình Lục. Không rẽ mà đi tiếp sẽ đến số 143 là từ đường Phòng Tăng Duệ, phủ thờ Hoàng Tử Cảnh. Có lẽ vùng này thuộc làng Vân Dương rồi. Nhìn bên kia sông cũng là làng Vân Dương. Nơi đây có ngã ba, nơi sông Lợi Nông tẻ nhánh qua tiếp nước cho sông Như Ý. 

Đi tiếp một đoạn ngắn  gặp một ngã ba khác. Từ đây sông Như Ý có một nhánh đi thẳng theo hướng đông nam. Đây là đoạn sông Cùng được đào thông tới các kênh mương gân cầu ngói Thanh Toàn. Nếu đi tiếp, con đường ven sông bên phải sẽ gặp một làng gọi là Vân Thê Đập, còn con đường ven sông bên trái sẽ gặp Vân Thê Làng. Con sông này sẽ gặp một đoạn kênh chảy ngang qua tạo thành góc vuông. Đoạn kênh này từ nhánh sông Như Ý bên kia (tạm gọi là nhánh 2) chảy qua đây và nối với sông Lợi Nông.

Nhánh Như Ý 2 được đào từ ngã ba này rẽ vuông góc sang trái theo hướng đông. Đoạn này cũng thuộc làng Vân Dương. Bên kia sông cũng thuộc làng Vân Dương. Ở sát ngã ba này có một cây cầu, gọi là cầu Lò Trâu đã bị gãy do lụt năm 1999. Phía đầu cầu bên kia là chùa Vân Dương.


cầu Lò Trâu bị gãy do lụt năm 1999


Chùa Vân Dương (nếu không sập thì cầu Lò Trâu sẽ đi gặp chùa ở đầu bên kia)

Cầu Vân Dương, nối từ Vân Dương bên này sang Vân Dương bên kia sông.
Từ trên cầu nhìn ra trước sẽ thấy  sông Cùng.
 

Trong cuộc hành trình dọc theo sông Như Ý lần thứ hai, chỉ có hai lão: Trương lão và Trần lão.
Hai ông già khởi hành lúc 2:30 chiều, lúc trời đang nắng chang chang. Dân chơi không sợ mưa rơi, thì cũng sợ gì nắng gắt?

Từ nhà Trương lão ở làng Lại Thế phi qua làng Ngọc Anh để gặp nhánh sông Như Ý 2. Nhánh này lại có hai đầu, một đầu chạy lui làng Lại Thế theo hướng tây bắc, để chui qua cầu ông Thượng nổi tiếng và gặp lại sông Hương ở đầu phía đông cồn Hến, còn đầu kia chạy theo hướng đông nam. Có lẽ hẹn một lần khác thăm làng Lại Thế, một làng có khá nhiều di tích thú vị.

Nhắc lại là nhánh sông Như Ý 2 được đào thẳng góc với nhánh 1, chạy từ làng Vân Dương sang làng Diễn Phái, rồi gặp làng Ngọc Anh thì chia thành hai nhánh, một nhánh rẽ trái sang hướng tây gặp làng Lại Thế và một nhánh rẽ phải theo hướng đông nam sang làng Chiết Bi. Nhánh này từ đây chạy gần như song song với nhánh Như Ý 1 nhưng dài gấp đôi.

Cũng như lần trước, hai lão đứng lại một chút chiêm ngưỡng ngôi nhà thờ họ Nguyễn mà nghe nói là họ của thầy Nguyễn Văn Mỹ. Trong chuyến đi trước hai lão đã chụp hình đình làng và chùa làng (191 năm tuổi) nên chuyến này đi lướt qua.


Nhà thờ họ Nguyễn ở làng Ngọc Anh

Tiếp đó là làng Chiết Bi. Hai làng Ngọc Anh và Chiết Bi cùng thuộc xã Phú Thượng, huyện Phú Vang. Thời Minh Mạng thuộc tổng Ngọc Anh. Làng Chiết Bi vẫn còn đình làng xưa, có từ thế kỷ thứ 19. Ngôi đình có kiến trúc nhà rường 5 gian, 2 chái, nhưng nay chỉ còn 3 gian 2 chái, nhưng vẫn giữ được nét đẹp xưa, bên cạnh là chùa Linh Quang, miếu Khổng Tử, miếu các vị khai canh.


Đình làng Chiết Bi

Đình làng lợp ngói âm dương, trên nóc có mặt nhật, và rồng theo mô thức hồi long. Hai chái có cửa sổ tròn chữ thọ.

Chùa Linh Quang, bên cạnh đình


Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở chùa Linh Quang


Văn Miếu, thờ Khổng Tử và các tiên hiền


Sông Như Ý trước mặt đình là yếu tố minh đường theo thuật phong thủy. Nếu yếu tố này sáng sủa, thoáng rộng thì sẽ rất tốt cho làng. Nhưng hiện trạng thì không mấy tốt. Bèo bắt đầu phát triển che phủ mặt sông.

Ngư ông cần cù buông câu giữa đám lục bình không biết thu hoạch được gì.

Đây là làng Dưỡng Mông Thượng, thời vua Minh Mạng, thế kỷ 19, cũng thuộc tổng Ngọc Anh, nay thuộc xã Phú Thượng, huyện Phú Vang. Làng này có ngôi đình khá đẹp và khuôn viên rất rộng rãi.


Trụ biểu đình Dưỡng Mông Thượng


Hồ trước sân đình


Đình có ba gian, nhưng thay cho hai chái là hai nhà phụ, cũng trang trí mặt nhật trên nóc như gian chính. Mỗi đầu hồi nhà chái cũng phù điêu. Mỗi gian nhà phụ lại có hai cửa sổ hình vuông chạm nổi các linh thú.

Miếu Khai canh bên góc đình

La thành của đình có mở cửa hông. Dân làng đi chợ đi qua cửa hông này. Chợ họp ngay bên cạnh cửa hông phía bên kia.

Đoạn sông trước đình làng lại hẹp và bèo lục bình phủ gần kín


Ngư dân đi mò ốc vất vả chèo qua đám lục bình.
Ốc mò được từ đoạn sông ô nhiễm hẳn là một thứ thức ăn không lành.

Cuối làng Dưỡng Mông Thượng  có đường vành đai trong của thành phố Huế cắt ngang. Con đường này bắt đầu từ cầu Lim, đường Minh Mạng, chạy về núi Tam Thai, băng qua Quốc Lộ 1 trên cầu vượt Thủy Dương, chạy băng qua 3 sông Lợi Nông, và hai nhánh sông Như Ý về tới ngã ba Phú Mỹ (một nhánh đi về làng An Truyền, thuộc xã Phú An, và một nhánh đi về các làng thuộc xã Phú Mỹ).

Đi băng qua đường vành đai và tiếp tục đi dọc theo sông là làng Phước Linh, Vinh Vệ, An Lưu thuộc xã Phú Mỹ.  Bên kia sông là làng  Công Lương, thuộc xã Thủy Vân. Khi tới làng An Lưu, chúng tôi rẽ phải qua cầu để thăm chợ Dạ Lê Chánh, cũng thuộc xã Thủy Vân.  Chợ này, ngoài các gian hàng thông thường, còn là một đầu mối buôn bán nón và nguyên vật liệu để làm nón cho làng và cả các làng bên kia sông như An Lưu, Mỹ Lam. Làng này còn được gọi là Dạ Lê gót, do nghề truyền thống của dân làng là đan các tấm gót bằng tre, từ đó người ta có thể làm phên vách, làm bồ đựng nông sản, v.v. vì ở đây nhiều tre.


Chợ Dạ Lê Chánh nhìn ra sông Như Ý

Chúng tôi cũng đi ra thăm đình Dạ Lê, một đình làng cổ, được xây dựng từ năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng, và được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.


Trụ biểu và bình phong đình Dạ Lê


Đình Dạ Lê


Đình xây theo kiểu nhà rường với 3 gian, 2 chái, có tiền đường khá rộng. Bên trong có 28 cột với 20 câu đối chữ Hán.

Ở giữa có bức hoành với bốn chữ “mỹ tục khả gia”. Đây là một loại bằng khen của triều đình cho những làng giữ gìn nề nếp gia phong tốt đẹp. Làng vẫn gữ lệ thu tế hằng năm (15/8 âm lịch).

Trước đình có hồ bán nguyệt.


Trước mặt đình là hồ bán nguyệt và cánh đồng Dạ Lê

Cánh đồng Dạ Lê

Chúng tôi gặp một ông già đứng hóng mát bên hồ. Bắt chuyện, chúng tôi nhận ra rằng ông già rất tự hào về làng của mình và có phần tiếc rẻ khi một phần cánh đồng làng mà ông ví như hai cánh dơi xung quanh đình bị trưng dụng để xây khu nhà ở mới. Đô thị phát triển thì một số nông dân dù muốn dù không cũng  phải hy sinh và lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi thay đổi sinh kế.


Ông già làng Dạ Lê đang hóng mát trước sân đình


Khu đô thị đang xây dựng trên cánh đồng màu mỡ

Qua cầu trở lại làng An Lưu chúng tôi gặp lại những người buôn thúng bán bưng vẫn như xưa.


Vẫn còn thúng mủng mây tre bên cạnh rỗ rá bằng nhựa, vẫn còn đậy hàng bằng lá chuối.

Vẫn còn quang gióng gánh hàng đi chợ.


Đình làng An Lưu


Chùa làng An Lưu



Chùa Sùng Ân là một ngôi chùa cổ nổi tiếng từ thời các chúa Nguyễn. Nơi đây còn lưu giữ một chuông đồng đúc vào năm 1678 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Trên chuông có khắc tên Thủ Bạ Trần Đình Ân, Vệ Úy Lê Cao Trí cùng nhiều người khác cúng dường.

Cuối làng An Lưu có cầu Long để đi qua làng Mỹ Lam, cũng thuộc xã Phú Mỹ.


Dưới sông trâu bơi lội thỏa thích

Trên bờ có một trẻ chăn trâu ngồi trông

Nông dân nuôi cá trong lưới mà người ta gọi là cá trong dèo

Trên bến nước xưa, vẫn còn các o giặt áo.


Đình làng Mỹ Lam nhìn ra sông Như Ý

Cuối làng là chợ Sam, từ đây có cầu bắc qua sông Như Ý để sang làng Vân Thê, thuộc xã Thủy Thanh. Xã này có năm làng: Thanh Thủy Chánh, Vân Thê Làng, Vân Thê Đập, Lang Xá Cồn và Lang Xá Bàu. Thủy Thanh hồi xưa là làng Thanh Toàn, thành lập rất sớm,  từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đóng đất Thuận Hóa (1558) với 12 họ khai canh. 

Làng Thanh Thủy Chánh nổi tiếng với cây cầu ngói do bà Trần Thị Đạo xây năm 1776. Còn làng Vân Thê lại nổi tiếng với hai vị Phụ chánh Thân Thần là ông Tôn Thất Thuyết và Tôn Thất Hân. Ông Tôn Thất Thuyết là Phụ Chánh sau khi vua Tự Đức băng hà (1883), là người giữ vai trò chính trong sự phế truất vua Dục Đức, lập vua Hiệp Hòa, rồi lại phế và lập vua Kiến Phúc. Ông Tôn Thất Hân là vị Phụ Chánh sau khi vua Khải Định qua đời (1925), giữ vai trò nhiếp chính trong thời gian vua Bảo Đại qua Pháp du học.

Vân Thê có nghĩa là cầu mây. Tên làng lấy từ hai câu thơ cổ:
Học hải vô nhai cần thị ngạn.
Thanh vân hữu lộ chí vi thê.

Nghĩa là:

Biển học vô bờ, lấy chuyên cần làm bến.
Mây xanh có lối, lấy chí cả làm thang.


Đình làng Vân Thê là di tích được xếp hạng cấp quốc gia


Trước đình cũng có hồ nước, nhìn ra cánh đồng làng, cách cầu ngói Thanh Toàn chừng 300m.

Điểm thu hút khách phương xa nhất ở làng Vân Thê có lẽ là phủ Quốc Uy Công Nguyễn Phúc Thuần (1653-1675) nằm sát bờ sông Như Ý. Nguyễn Phúc Thuần là con trai thứ tư của Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần. Khi quân Trịnh tấn công xứ Đàng Trong năm 1672, tướng sĩ đề nghị Công tử Nguyễn Phúc Thuần làm nguyên soái. Vị tướng này lúc ấy mới 20 tuổi. Nhờ được sự ủng hộ của quân sĩ và tài điều binh, ông đã đánh bại mưu đồ chinh phục của chúa Trịnh và hai xứ thỏa thuận bãi bỏ việc binh đao từ đó về sau, lấy sông Gianh ở bắc Quảng Bình làm ranh giới.
Ông là người rất khoan dung. Đối với tù binh Trịnh ông cho họ lựa chọn, nếu muốn về quê thì được cấp tiền gạo, nếu muốn đi khai khẩn đất đai thì được cấp đất ở Quảng Nam, không giết người nào. Sau trận chiến ông lập hai đàn cầu siêu cho binh sĩ cả hai miền. Khi hoàn thành nhiệm vụ ông xin về quê ở làng Vân Thê ở ẩn, lập am tu theo Phật. Hai năm sau ông lâm bệnh mất. Ông được phong là Thượng Tướng Quân, Hiệp Quận Công. Về sau, vua Minh Mạng truy phong làm Khai Quốc Tôn Thần, tước Quốc Uy công.
Dòng dõi này phát sinh nhiều vị tướng. Con ông là Nguyễn Phúc Nhuận được phong làm Chưởng Dinh, hàm Thiếu Phó Quận Công. Cháu là Nguyễn Phúc Thành làm Cai Cơ. Đời kế tiếp có Nguyễn Phúc Lộc làm đến chức Quản Cơ. Đời tiếp theo có Tôn Thất Đính,làm Vệ Úy.
Binh bộ Thượng Thư Tôn Thất Thuyết là con thứ hai của ông Tôn Thất Đính. Khi còn làm đại thần  Tôn Thất Thuyết  cho xây phủ thờ Quốc Uy Công và đây cũng là nơi thỉnh thoảng ông về nghỉ ngơi. Vì có nhiều thế hệ làm tướng, có công lớn với đất nước, phủ này được ban cho bức hoành Quốc Ân Thế Nghiệp.


Cổng phủ Quốc Uy công


Mộ Quốc Uy Công

Sau cuộc đột kích quân Pháp không thành vào đêm 4/7/1885 dẫn đến sự phản công của quân Pháp, kinh đô thất thủ, ông đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở, Quảng Trị, phát hịch Cần Vương. Cả nhà ông gồm cha, mẹ, vợ, con, các em đều phục vụ và hy sinh cho phong trào Cần Vương. Ông Tôn Thất Đính bị đày ra Côn Đảo. Mẹ ông là Văn Thị Thu, vợ là Lê Thị Thanh theo phò vua Hàm Nghi, cả hai đều chết ở núi rừng Hà Tĩnh,   Em ông là Tôn Thất Hàm, làm Tri Huyện Nông Cống (Nghệ An) bị bắt và tuyệt thực đến chết. Em là Tôn Thất Lệ, Tham Biện Sơn Phòng Quảng Trị tử trận ở Mai Lĩnh, Quảng Trị. Con trai là Tôn Thất Thiệp đã hy sinh khi bảo vệ vua ở rừng Tuyên Hóa, Quảng Bình. Con trai là Tôn Thất Đạm tự sát khi nghe tin vua Hàm Nghi bị bắt (1888). Con trai khác là Tôn Thất Hoàng bị bắt giam và chết trong ngục Lao Bảo. Con rễ là Nguyễn Thượng Hiền, người đỗ tiến sĩ khi mới 20 tuổi, được bổ làm Đốc Học cũng bỏ đi sang Nhật trong phong trào Đông Du. Cha vợ là Nguyễn Thiện Thuật, cầm đầu cuộc khởi nghĩa ở Bãi Sậy, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1887 Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện. Ông liên lạc với các thủ lĩnh những cuộc nổi dậy trong nước của phong trào Cần Vương, chở gạo sang Trung Quốc bán và mua vũ khí cung cấp cho các cánh quân của Trần Xuân Soạn, Phan Đình Phùng. Năm 1895, người Pháp yêu cầu nhà Mãn Thanh kiểm soát các hoạt động mua sắm vũ khí đưa về nước của ông. Ông bị cấm đi khỏi nơi lưu trú và chết tại Quảng Đông năm 1913.
Khi nghe tin ông mất, thân nhân đã lập bàn thờ ông ngay ở gian sau của phủ thờ (gian trước thờ Quốc Uy Công).

Sau năm 1975, sân vườn của phủ thờ được hợp tác xã sử dụng làm chuồng trại chăn nuôi. Năm 1994 phủ được công nhận là di tích lịch sử và Hội Khoa Học Lịch Sử đúc một tượng đồng về đặt ở đây, và chuồng trại được tháo dỡ, nhưng việc trùng tu thì lại bằng tiền đóng góp của con cháu.


Di ảnh Tôn Thất Thuyết


 

Tượng đồng Tôn Thất Thuyết do Hội Khoa Học Lịch Sử đúc

Phủ đang được trùng tu, có lẽ sẽ hoàn thành trong tháng 7, 2012. 

Trong sân có hai cây cổ thụ cao lớn.

Chiều xuống rồi, hai lão Trương, Trần phải “về chuồng.”

Phải đợi đến chuyến đi thứ ba Trần Lão cùng Nguyễn Văn Chung, tức Chung Dạ Lê mới đi tiếp con đường 10A từ làng Mỹ Lam xuống làng Sư Lỗ Đông, thuộc Phú Lương, huyện Phú Vang.


Cổng làng Sư Lỗ Đông

Đi tiếp gặp cầu Lợi Nông và thôn Lợi Nông.


Sông Lợi Nông thẳng tắp, nước xanh biếc

Nhưng dọc theo con sông Lợi Nông về hướng đông chỉ có một đoạn đường ngắn là đụng phải cánh đồng. Hai lão già phải đi lui một đoạn khoảng 100m, nơi có ngã rẽ đi dọc theo sông Như Ý vào làng Lê Xá Tây, rồi làng Giang Tây, làng Lộc Lương, tất cả đều thuộc xã Phú Lương. Ở đây có một ngã ba sông. Một nhánh rẽ về hướng bắc mà người dân địa phương gọi là sông Cốm. Một nhánh chảy tiếp về đông gặp cầu Phú Thứ, cách đó khoảng 70m. Hai con sông Như Ý và Lợi Nông đã hòa nhập làm một cho nên sông ở đây rất rộng.

Bờ sông bên trái được làm kè mới mà người ta gọi là “bợt rào”. Nhưng phải qua cầu Lộc Lương sang làng Lương Văn, xã Thủy Lương, mới có đường đi tới cầu Phú Thứ. Con đường từ làng Vân Thê về đây dài 14km. Như vậy độ dài của sông Như Ý phải hơn 20km. Độ dài của sông Lợi Nông khoảng 27km.


Cầu Lộc Lương sang làng Lương Văn



Cầu Phú Thứ, nơi sông Như Ý và Lợi Nông gặp gỡ sông Đại Giang, nơi sóng nước bắt đầu trở thành mênh mông.

Từ đây sông chảy về hướng đông nam để gặp sông Cống Quan, đổ nước vào đầm Cầu Hai rồi ra cửa biển Tư Hiền.

Như vậy là dưới thời vua Gia Long đã đào các con sông Tây, Bắc, và Đông Hộ Thành Hà (tức là sông  Kẻ Vạn, An Hòa và Đông Ba), đào thông sông Bạch Yến tới gặp sông Kẻ Vạn tại cầu An Hòa, đào sông Lợi Nông, Như Ý.

Vua Minh Mạng còn cho đào sông Phổ Lợi từ làng La Ỷ về sông Diên Trường dài 11km.

Đó là những con sông trong địa phận Thừa Thiên.

Còn nhớ vua Gia Long, năm 1818, đã cho đào con sông Thoại Hà, chiều dài 30km, do Trấn Thủ trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) chỉ huy công trường. Bây giờ sông này được gọi là  kênh Long Xuyên-Rạch Giá. Vua Minh Mạng còn cho đào kênh Vĩnh Tế dài 91km, nối Châu Đốc với Hà Tiên cũng do Nguyễn Văn Thoại cùng các ông Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Văn Tồn, Trần Công Lại chỉ huy.

Vua Minh Mạng còn cho đào sông Vĩnh Định ở Quảng Trị, sông Vĩnh Điện ở Quảng Nam, sông Cửu Yên ở Hưng Yên. Vua Thiệu Trị cho đào sông Tân Châu, dài 17km, ở An Giang. Trong thế kỷ thứ 19, với công cụ thô sơ, triều Nguyễn đã cho đào hàng trăm ngàn km sông và các kênh mương.

Đi theo các con sông cũng là đi theo dòng lịch sử – văn hóa. Dòng lịch sử thì chảy miên man, còn cuộc lữ nào cũng giới hạn cho nên chuyến đi dọc theo sông Như Ý xanh xanh phải ngừng ở đây.

Trương Văn Thanh, Lê Đức Thiệp, Trần Ngọc Bảo
(Theo All2Art)

Similar Articles

Chân như một mùa sen

Chân như một mùa sen

Những hồ sen trong thành phố đã xong một mùa hoa ngát hương. Buổi sáng đạp

Giữ rừng cho phố

Giữ rừng cho phố

Nếu như hệ thống cây xanh được xem là lá phổi xanh cho đô thị

Người nơi Rú Chá

Người nơi Rú Chá

Khi ngả mình trên cái chòi dựng bằng bốn cây tre, tấm vạt sàn cũng

Rú Chá, mùa lá bay…

Rú Chá, mùa lá bay…

Màu vàng của lá cây chá đầy ma lực giữa giai điệu mùa thu ngát

Cồn Dã Viên – không gian của văn hoá và thiên nhiên thơ mộng

Cồn Dã Viên – không gian của văn hoá và thiên nhiên thơ mộng

Con đường đi bộ được ốp đá, uốn lượn ôm vòng bờ Đông cồn Dã

Danh mục

Tìm kiếm:



Có thể bạn quan tâmclose